Bác Hồ nói chuyện với các tầng lớp Nhân dân Thanh Hóa ngày 13-6-1957. Ảnh: Tư liệu
Vào cuối năm 1958, đầu năm 1959, ở thời điểm tổng kết 30 năm lãnh đạo của Đảng và cũng là lúc nhìn lại những trải nghiệm của cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Đạo đức cách mạng” dưới bút danh Trần Lực. Theo Người, đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng; là ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; là đặt lợi ích của Đảng và Nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; là hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân; là luôn học tập Chủ nghĩa Mác - Lênin, thường xuyên tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng, cải tiến công tác và cùng đồng chí mình tiến bộ.
Đọc lại “Sửa đổi lối làm việc”, tác phẩm Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, càng thấy rõ hơn cách Người phân tích tư cách người cách mạng và vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức. Chính đạo đức của một Đảng cầm quyền và tấm gương trong sáng của đội ngũ cán bộ, đảng viên là yếu tố cốt lõi và thuyết phục Nhân dân tin theo và làm theo, thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng.
Theo PGS.TS Bùi Thị Ngọc Lan, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, một Đảng cầm quyền khi tạo được sự giao thoa giữa lý tưởng cách mạng với niềm tin của Nhân dân thông qua năng lực lãnh đạo và phẩm chất đạo đức sẽ khơi dậy, phát huy sức mạnh của quần chúng Nhân dân, làm cho Nhân dân tin tưởng đi theo và ủng hộ. Qua đó, Đảng mới giữ vững được vị thế cầm quyền và vai trò lãnh đạo trong cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng.
Chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên là tổng hợp những quy tắc, yêu cầu và đòi hỏi của chế độ xã hội mới đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Đó là những giới hạn của điều được phép, không được phép và bắt buộc phải thực hiện nhằm giữ gìn kỷ cương, trật tự và sự phát triển của xã hội. Đó còn là sự định hướng và điều chỉnh hành vi của cán bộ, đảng viên trong đời sống xã hội và công tác; là thước đo để Nhân dân giám sát trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.
Theo quan điểm của Lênin, chỉ khi kết hợp cả ba yếu tố: năng lực trí tuệ lãnh đạo sáng suốt; danh dự và trách nhiệm trước vận mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội khỏi áp bức bóc lột; cùng lương tâm và phẩm giá đạo đức trong sáng mới tạo thành sức mạnh tổng hợp để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Nhân tố cốt lõi nhất của đạo đức cộng sản chính là sự thống nhất lợi ích giữa Đảng - giai cấp - Nhân dân. Chính điều đó tạo nên sức mạnh to lớn thu hút giai cấp công nhân và Nhân dân lao động đi theo, trở thành cơ sở chính trị - xã hội rộng lớn để bảo đảm vững chắc vị thế cầm quyền của Đảng.
Các nhà sáng lập Chủ nghĩa Mác khẳng định, giáo dục đạo đức không chỉ là truyền đạt chuẩn mực ứng xử mà còn phải tạo ra những điều kiện xã hội phù hợp với bản chất tốt đẹp của con người. Điều đó đặc biệt có ý nghĩa bởi, trong tâm lý học quản lý hiện đại, chỉ khi thấu hiểu động cơ trong sáng của con người, thiết lập và kiến tạo các điều kiện thỏa mãn động cơ lành mạnh ấy, thì đó cũng là lúc khai phóng một cách tự giác rất nhiều sức mạnh từ hạt nhân giá trị đạo đức cách mạng. Điều kiện cần và đủ để giáo dục đạo đức, đạo đức cách mạng một cách thuyết phục chính là: kiến tạo một môi trường, và rộng hơn là một xã hội mà ở đó có sự thống nhất giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. “Nếu như lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức thì cần ra sức làm cho lợi ích riêng của con người phù hợp với lợi ích của toàn thể loài người”, Ph. Ăngghen từng viết. Quan điểm ấy đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự, giá trị nhân văn cao cả.
Đạo đức xã hội không phải là thứ bất biến mà luôn vận động cùng tồn tại xã hội. Cơ sở hình thành đạo đức là nền tảng kinh tế - xã hội, gắn liền với quá trình giáo dục, rèn luyện và hoạt động thực tiễn của con người. Chính vì vậy, trước những đổi thay của thời đại mới và điều kiện kinh tế- xã hội mới, rất cần tiếp tục làm rõ những nội hàm và phẩm chất cần có của đạo đức cách mạng đối với cán bộ, đảng viên hôm nay.
Thế kỷ XXI nổi bật như kỷ nguyên của những thay đổi chưa từng có với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, toàn cầu hóa và những chuyển biến sâu sắc trong đời sống xã hội. Sự thay đổi ấy đặt ra yêu cầu mới đối với người lãnh đạo: không chỉ có năng lực chuyên môn mà còn phải có tầm nhìn chiến lược, tinh thần đổi mới, khả năng hợp tác, tôn trọng sự đa dạng và hướng tới phát triển bền vững.
Theo các chiến lược gia về phát triển thể chế và tổ chức, lãnh đạo thế hệ mới cần có những phẩm chất nổi bật như tư duy chiến lược, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Nhưng ấn tượng và quan trọng hơn cả vẫn là phẩm chất xây dựng niềm tin và sự tín nhiệm. Bởi liêm chính, minh bạch và trách nhiệm giải trình luôn là nền tảng để tạo dựng niềm tin với Nhân dân, nhà đầu tư và các đối tác quốc tế.
Quay trở lại với bài viết “Đạo đức cách mạng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có thể thấy Người sớm nhận ra hành trình xây dựng chủ nghĩa xã hội sẽ còn rất nhiều gian nan, thử thách. Vì vậy, Người khẳng định: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp vẻ vang nhưng cũng là nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh phức tạp, lâu dài và gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa”. Theo Người, cái “sức mạnh” ấy trước hết là đạo đức cách mạng.
Vậy đạo đức cách mạng có khó rèn luyện không? Chắc chắn là khó với những ai còn nặng chủ nghĩa cá nhân. Nhưng sẽ không khó với những ai mang trong mình tấm lòng vì Đảng, vì dân, vì nước. Bởi như cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết. Khi lợi ích của Đảng và lợi ích cá nhân mâu thuẫn với nhau thì lợi ích cá nhân phải phục tùng lợi ích của Đảng. Người đảng viên là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, do đó lợi ích của cá nhân không thể tách rời lợi ích của Đảng và của Nhân dân.
Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C. Mác và Ph. Ăngghen từng viết: Những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất, luôn thúc đẩy phong trào tiến lên. Họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ hiểu rõ điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào cách mạng.
Còn trong “Bản thảo kinh tế - triết học” năm 1844, C. Mác khẳng định: “Nếu anh muốn ảnh hưởng tới những người khác thì anh phải thực sự kích thích và thúc đẩy những người khác”. Nghĩa là, sức thuyết phục lớn nhất không nằm ở lời nói mà chính ở hành động và nhân cách của con người.
Ngày nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra không còn dừng ở nhận thức mà phải chuyển hóa thành hành động cụ thể. Trong bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh không chỉ là khát vọng mà còn là lời hứa danh dự trước Nhân dân. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những người “đứng mũi chịu sào”, phải biết vượt lên chính mình.
“Nói đi đôi với làm” không chỉ là khẩu hiệu mà phải trở thành nguyên tắc hành động, thành thước đo uy tín của mỗi cán bộ, đảng viên. Một lời nói đúng nhưng không được thực hiện sẽ dần mất đi giá trị. Nhưng một hành động thiết thực, dù nhỏ, lại có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn rất nhiều lời nói.
Đạo đức cách mạng, xét đến cùng, chính là tấm “la bàn” giúp con người không lạc hướng trước những biến động của cuộc sống. Giữ vững đạo đức hôm nay là cuộc đấu tranh không khoan nhượng với chính bản thân mình. Mỗi ngày, mỗi việc, mỗi quyết định đều là một lần thử thách và cũng là cơ hội để hoàn thiện bản thân. Hơn thế nữa, người cán bộ, đảng viên không chỉ rèn luyện bản thân mà còn phải lan tỏa những động lực tích cực đó đến đồng chí, đồng nghiệp và cộng đồng. Rõ ràng, công cụ thuyết phục quan trọng nhất mà mỗi người có được chính là lòng chính trực của mình.
Nguyễn Hường