Đây không chỉ là bước chuyển về kinh tế mà còn là sự đổi mới sâu sắc trong tư duy văn hóa phát triển đất nước trong thế kỷ XXI.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại cuộc làm việc ngày 8/6 về tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW. Ảnh: TTXVN
Từ tư duy khai thác biển đến tư duy kiến tạo không gian phát triển quốc gia
Tám năm trước, khi Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đây được xem là một quyết sách mang tầm chiến lược, mở ra hướng tiếp cận mới đối với tiềm năng biển của đất nước.
Thực tiễn 8 năm triển khai đã chứng minh tính đúng đắn của nghị quyết. Nhận thức về vị trí, vai trò của biển được nâng lên rõ rệt; hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện; nhiều ngành kinh tế biển phát triển tích cực; hạ tầng ven biển được tăng cường; đời sống cư dân vùng biển có nhiều cải thiện; quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền biển đảo đạt những kết quả quan trọng.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì làm việc về Đề án tổng kết Nghị quyết 36 - NQ/TW. Ảnh: TTXVN
Tuy nhiên, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thẳng thắn chỉ rõ tại cuộc làm việc ngày 8/6, kinh tế biển vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu cầu phát triển của đất nước. Điều đó cho thấy những mục tiêu đặt ra từ Nghị quyết 36 cần được tiếp tục nâng lên bằng một tầm nhìn mới, tư duy mới và những quyết sách mạnh mẽ hơn.
Điểm đặc biệt đáng chú ý trong chỉ đạo của Tổng Bí thư là yêu cầu phải chuyển mạnh từ tư duy "kinh tế biển" sang tư duy "không gian phát triển biển quốc gia mạnh". Đây có thể xem là bước phát triển mới trong nhận thức chiến lược về biển.
Trong nhiều năm, khi nói tới biển, người ta thường nghĩ đến khai thác hải sản, vận tải biển, du lịch biển hay dầu khí. Cách tiếp cận này đặt trọng tâm vào các ngành kinh tế cụ thể. Nhưng trong bối cảnh mới, biển không còn chỉ là nơi tạo ra nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên.
Theo tư duy mới, biển phải được nhìn nhận như một chỉnh thể thống nhất, nơi hội tụ đồng thời các lợi ích phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường và Hội nhập quốc tế.
Từ góc độ văn hóa phát triển, đây là sự thay đổi mang tính căn bản. Nếu trước đây biển được xem là đối tượng để khai thác thì nay biển được nhìn nhận như một không gian để kiến tạo tương lai.
Sự thay đổi ấy phản ánh quá trình trưởng thành trong nhận thức của một quốc gia biển. Những quốc gia thành công trong thế kỷ XXI không phải là những nước chỉ biết tận thu tài nguyên biển mà là những quốc gia biết tổ chức, quản trị và phát huy hiệu quả toàn bộ không gian biển của mình.
Điều mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra không chỉ là câu hỏi phát triển các ngành kinh tế biển như thế nào, mà là câu hỏi lớn hơn: Việt Nam sẽ quản trị và phát huy toàn bộ không gian biển quốc gia ra sao để phục vụ mục tiêu phát triển đất nước trong nhiều thập niên tới.
Đó là tầm nhìn của một quốc gia hướng ra biển, lấy biển làm động lực chiến lược chứ không chỉ là một nguồn lực bổ sung cho tăng trưởng.
Xây dựng văn minh biển trong hành trình phát triển đất nước đến năm 2045
Một trong những nội dung nổi bật trong chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu đặt biển vào vị trí một trong những động lực phát triển chiến lược trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Đằng sau yêu cầu đó là một nhận thức mới về vai trò của biển đối với tương lai dân tộc.
Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển, hàng nghìn đảo lớn nhỏ cùng vị trí địa chiến lược quan trọng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, biển đang mở ra những không gian phát triển hoàn toàn mới.
Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển cụm liên kết ngành kinh tế biển gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế biển mạnh thời kỳ đến năm 2030. Ảnh: VGP.
Đó là điện gió ngoài khơi, năng lượng tái tạo biển, hydrogen xanh, logistics biển, công nghiệp sinh học biển, nuôi biển công nghệ cao, kinh tế số biển và nhiều lĩnh vực khác dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.
Bởi vậy, yêu cầu tiếp cận biển bằng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mà Tổng Bí thư nêu ra không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà còn thể hiện tầm nhìn về một nền văn minh biển hiện đại.
Lần đầu tiên, những nội dung như dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số đại dương, trí tuệ nhân tạo trong quản trị biển được đặt ra như những thành tố của chiến lược phát triển biển trong tương lai. Điều đó cho thấy biển đang được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ tài nguyên vật chất mà còn là không gian tri thức và công nghệ.
Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển với bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ biển.
Tư duy này mang đậm chiều sâu văn hóa chính trị Việt Nam. Trong lịch sử dân tộc, dựng nước luôn gắn liền với giữ nước. Ngày nay, nguyên tắc đó tiếp tục được thể hiện trong mọi chiến lược phát triển biển.
Mỗi cảng biển hiện đại, mỗi trung tâm logistics, mỗi dự án kinh tế biển hay công trình trên biển không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần củng cố thế trận quốc phòng, bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia.
Đây cũng là lý do môi trường biển được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển và an ninh quốc gia. Khi biển trở thành không gian phát triển chiến lược thì bảo vệ môi trường biển không còn là nhiệm vụ riêng của ngành tài nguyên môi trường mà trở thành trách nhiệm của toàn xã hội.
Nhìn sâu hơn, tư duy mới về phát triển biển mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra chính là tư duy của một nền văn minh sinh thái mà ở đó con người không đối lập với thiên nhiên, không phát triển bằng cách đánh đổi môi trường, mà hướng tới sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo tồn hệ sinh thái và bảo đảm lợi ích lâu dài của quốc gia.
Từ tổng kết Nghị quyết 36 và yêu cầu xây dựng một nghị quyết mới với tầm nhìn dài hạn, có thể thấy Việt Nam đang đứng trước cơ hội định hình một chiến lược biển mang tầm thế kỷ. Đó không chỉ là chiến lược phát triển kinh tế biển mà còn là chiến lược xây dựng một quốc gia biển mạnh, hiện đại và bền vững.
Khi biển được nhìn nhận là không gian phát triển chiến lược của quốc gia, là nơi hội tụ sức mạnh kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa, quốc phòng và hội nhập quốc tế, biển sẽ thực sự trở thành động lực mới cho tăng trưởng nhanh và bền vững, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.
Đó cũng chính là ý nghĩa sâu xa của yêu cầu đổi mới tư duy và tầm nhìn phát triển bền vững kinh tế biển được đặt ra hôm nay: Mở rộng tầm nhìn từ mặt biển đến tương lai của dân tộc trong kỷ nguyên mới.
V.X.B
Vũ Xuân Bân