Trung tâm Đột quỵ, Bệnh viện Bạch Mai, về đêm
Giữa lằn ranh sống chết ở Trung tâm Đột quỵ
Chúng tôi có mặt ở Trung tâm Đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai lúc 11 giờ đêm mùa đông trời lạnh. Phía hành lang đối diện rất đông người nhà bệnh nhân đang thấp thỏm. Người ngồi, người nằm, ánh mắt hướng nhìn vào phía trong, tai chăm chú lắng nghe tiếng loa gọi tên người nhà bệnh nhân. Tiếng bước chân bác sĩ vội vã, tiếng máy theo dõi nhịp tim đều đều, tiếng xe đẩy bệnh nhân lăn trên nền gạch tạo thành thứ âm thanh đặc trưng của nơi giành giật từng giây với tử thần.
Thỉnh thoảng, tiếng còi xe cấp cứu lại hú còi chạy vào Trung Tâm Đột quỵ, một ca cấp cứu vừa được đưa vào. Người nhà đứng túm tụm bên ngoài cửa phòng hồi sức, ánh mắt căng thẳng, đôi tay run run chắp lại cầu nguyện. Ở nơi này, không ai dám nói lớn, bởi dường như mỗi tiếng động như chạm vào sự sống mong manh qua lớp kính phòng cấp cứu.
Men theo hành lang dài, chúng tôi bắt gặp những người nhà bệnh nhân ngồi dựa lưng vào tường, ôm túi đồ cá nhân, gương mặt phờ phạc vì nhiều đêm thiếu ngủ. Có người tranh thủ chợp mắt trên chiếc ghế, có người trải bìa carton nằm tạm dưới sàn gạch. Họ là những "bệnh nhân không giường bệnh", những người âm thầm chịu đựng song hành cùng nỗi đau của người thân.
Anh Tráng A Dơ túc trực hành lang bệnh viện để tiện chăm sóc vợ
Ở một góc khuất gần phòng điều trị, tôi gặp anh Tráng A Dơ, người dân tộc Mông ở xã Mường Nhé (tỉnh Điện Biên), ngồi bó gối, ánh mắt dõi vào cánh cửa nơi vợ anh đang nằm. Dáng người gầy gò, làn da sạm nắng và đôi mắt thiếu ngủ vì những đêm dài. Câu chuyện của anh như lát cắt đau đáu về hành trình chữa bệnh của người nghèo nơi bệnh viện tuyến cuối.
"Vợ em bị xuất huyết não, cấp tính, lại thêm viêm phổi và sốc nhiễm khuẩn. Từ lúc sinh đứa con thứ hai xong được mấy tháng là vợ em bị luôn. Em đưa vợ đi bệnh viện tỉnh rồi chuyển xuống Hà Nội, nằm ở đây đã hai tháng nay", anh Dơ tâm sự.
Anh Tráng A Dơ sinh năm 2004, vợ là chị Lầu Thị Dợ sinh năm 2006. Cả hai mới học hết cấp hai đã lập gia đình, cuộc sống khó khăn, gắn với nương rẫy ở Mường Nhé, một xã biên giới xa xôi của tỉnh Điện Biên. Hiện anh Dơ đã có hai con nhỏ, đứa thứ hai vừa chào đời được một thời gian thì bi kịch ập xuống gia đình.
"Nhà em thuộc hộ nghèo, không có tiền đưa vợ đi chữa bệnh. Em cũng đứng ra vay tạm, nhờ bà con trong bản rồi các nhà hảo tâm hỗ trợ mới gom được ít tiền đưa vợ xuống Hà Nội điều trị", anh Dơ giãi bày.
Đối với vợ chồng anh Dơ, khoản tiền hỗ trợ ấy là chiếc phao cứu sinh duy nhất giúp gia đình anh cầm cự suốt thời gian qua. Điều may mắn hơn, vợ anh được hưởng bảo hiểm y tế 100%, nên chi phí điều trị phần nào được giảm bớt. Nhưng tiền sinh hoạt, ăn uống, đi lại và phát sinh thêm trong điều trị giữa chốn đô thị vẫn là gánh nặng khổng lồ đối với hoàn cảnh như anh Dơ.
Mỗi bữa anh chỉ dám mua suất cơm rẻ nhất ở căng tin bệnh viện từ 30 đến 40 nghìn đồng. Có hôm quá mệt, anh ăn vội gói mì tôm, hay cái bánh mì rồi lại chạy vào chăm vợ. Không thuê trọ, không nhà người quen, đêm đến, anh trải bìa carton và tấm chăn sờn ngủ ngay ngoài hành lang. "Ngủ đây cho đỡ tốn tiền, lại gần vợ, có gì bác sĩ gọi là em chạy vào liền", anh nói, giọng chùng xuống.
Hai con nhỏ ở quê gửi cho bố mẹ, họ hàng chăm sóc. Mỗi lần gọi điện về nghe con khóc đòi mẹ, anh lặng im rất lâu. "Giờ đây, em chỉ mong vợ em tỉnh lại, khỏe lên để về với bố con em, đó là điều hạnh phúc nhất", anh nói, đôi mắt đỏ hoe.
Với người nghèo vùng sâu vùng xa như anh Tráng A Dơ, hành trình chữa bệnh không chỉ là cuộc chiến với tử thần mà còn là cuộc vật lộn với cơm áo từng ngày. Anh kể, ở bản làng Mường Nhé, cuộc sống chủ yếu dựa vào làm nương, trồng ngô, trồng sắn. Thu nhập bấp bênh, đủ ăn đã khó, nói gì đến tích lũy, có tiền dự phòng. Khi vợ ngã bệnh, anh gần như trắng tay.
"Có lúc em nghĩ nếu không có mọi người giúp chắc em phải đưa vợ về thôi", anh chia sẻ thật thà nhưng ánh mắt anh lại ánh lên quyết tâm: "Còn nước còn tát. Em chỉ mong vợ sống".
Người nhà bệnh nhân ngủ qua đêm nơi băng ghế
Những phận đời lặng lẽ nơi hành lang bệnh viện
Ở Trung tâm Đột quỵ, bức tranh về nỗi khổ người nhà bệnh nhân hiện ra rõ nét hơn bao giờ hết. Từ nỗi lo cho người nhà nằm điều trị tích cực đang đối diện với sinh tử, đến sự bất tiện, khổ cực cho người nhà phải ăn nằm ở hành lang dưới trời đông gió rét.
Cách mấy hàng ghế, chị Bàn Thị Nhi, người dân tộc Dao ở xã Xuân Lương, Lào Cai, ngồi ôm túi đồ nhỏ cạnh mẹ là bà Bàn Thị Còi, 50 tuổi, đang ngủ li bì vì mệt với chuyến xe gần 7 tiếng đồng hồ từ Lào Cai xuống Hà Nội.
"Hai mẹ con xuống Hà Nội từ lúc chiều, chưa kịp làm thủ tục nhập viện. Nghe mọi người bảo phải 4 giờ sáng mới đi lấy số khám được nên hai mẹ con chọn cách là nằm chờ ở đây", chị Nhi nói.
Mẹ chị bị viêm lưỡi nặng, đau đớn đến mức không ăn uống được. Ở tuyến dưới chữa mãi không khỏi, gia đình buộc phải gom tiền đưa bà xuống bệnh viện tuyến Trung ương để điều trị. Để tiết kiệm chi phí, cũng như hành trình điều trị những ngày sắp tới, chị cũng phải chắt bóp và hai mẹ con chọn hành lang bệnh viện làm chỗ nghỉ tạm qua đêm với chiếc giường xếp vừa mới thuê.
Cách một đoạn, chị Hoàng Thị Thúy (52 tuổi), quê Phú Thọ, đứng lặng trước khu cấp cứu. Con gái chị, Trần Thị Lan, 24 tuổi, đang mang thai tháng thứ 5 nhưng bị thiếu máu nặng. "Lúc cháu mang thai đứa con đầu lòng cũng mắc bệnh thiếu máu phải xuống Hà Nội điều trị, giờ có bầu đứa thứ hai lại mắc tình trạng bệnh như lần đầu", chị nói, giọng buồn bã.
Theo chị Thúy, hai mẹ con vừa điều trị ở Viện Huyết học Trung ương được 8 ngày, nay lại chuyển sang Bạch Mai theo chỉ định của bác sĩ. Những ngày qua, chị Thúy gần như túc trực 24/24, ăn uống qua loa, ngủ gật trên ghế chờ chăm con.
Ở bệnh viện tuyến cuối, người ta không chỉ chứng kiến nỗi đau thể xác của bệnh nhân mà còn thấy rõ biết bao cảnh đời cơ cực. Ở hành lang bệnh viện, những người nhà bệnh nhân nghèo vẫn ngày ngày bám trụ.
Bệnh viện Bạch Mai là nơi hội tụ tinh hoa y học, là tuyến cuối cứu sống hàng vạn người mỗi năm nhưng cũng chính nơi đây bộc lộ rõ nhất khoảng cách giữa bệnh tật và nghèo khó, giữa hy vọng và kiệt quệ. Câu chuyện của anh Tráng A Dơ, chị Bàn Thị Nhi, chị Thúy ở Trung tâm Đột quỵ như là hình ảnh đại diện cho hàng nghìn người nhà bệnh nhân nặng, sự sống vô cùng mong manh đang gồng mình ở ranh giới của nước mắt và hy vọng.
Trường Lê