Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân là một trong những trí thức tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX. Cuộc đời ông gắn liền với hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học, biên soạn sách và tham gia các hoạt động văn hóa – xã hội trong suốt gần một thế kỷ.
Cố Giáo sư Nguyễn Lân.
Người thầy của nhiều thế hệ
Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân, bút danh Từ Ngọc, sinh ngày 14/6/1906 tại thôn Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh ra trong một gia đình nghèo ở vùng bạc điền thuộc huyện Mỹ Hào.
Thời niên thiếu, Nguyễn Lân theo học tại Trường Bưởi và được cấp học bổng toàn phần. Năm 1925, khi còn là học sinh trung học, ông viết tiểu thuyết đầu tay “Cậu bé nhà quê” với bút danh Từ Ngọc. Tác phẩm phản ánh tuổi thơ của chính tác giả, gắn với đời sống nông thôn và hoàn cảnh gia đình. Sau đó, cuốn tiểu thuyết được Nha học chính Đông Dương cho dịch sang tiếng Pháp và đến năm 1934 được sử dụng làm sách giáo khoa cho học sinh.
Năm 1932, Nguyễn Lân tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Sau khi ra trường, ông tham gia thành lập và giảng dạy tại Trường tư thục Thăng Long ở Hà Nội. Năm 1935, ông vào Huế giảng dạy tại các trường Quốc học, Đồng Khánh và Bách nghệ.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, GS Nguyễn Lân giữ chức Trưởng ty Giáo dục tỉnh Thừa Thiên kiêm Giám đốc Nha học chính Trung Bộ. Sau đó, ông ra Hà Nội giảng dạy tại Trường chuyên khoa Chu Văn An. Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông được giao nhiệm vụ làm Giám đốc Giáo dục Liên khu 10, rồi Giám đốc Giáo dục Liên khu Việt Bắc.
Năm 1951, ông được điều động sang giảng dạy tại Trường Sư phạm cao cấp khối xã hội của Việt Nam, được xây dựng trên đất Nam Ninh, Trung Quốc. Năm 1956, ông về công tác tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội với cương vị Chủ nhiệm bộ môn Tâm lý giáo dục. Khi Trường Đại học Sư phạm Hà Nội thành lập Khoa Tâm lý giáo dục, ông là chủ nhiệm khoa đầu tiên và giữ cương vị này liên tục cho đến khi nghỉ hưu năm 1970.
Tấm gương học tập trọn đời, gia đình khoa bảng huyền thoại
Bên cạnh sự nghiệp giảng dạy và quản lý giáo dục, Giáo sư Nguyễn Lân hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Sau tiểu thuyết “Cậu bé nhà quê”, ông tiếp tục sáng tác các tiểu thuyết “Khói hương” (1935), “Ngược dòng” (1936), “Hai ngả” (1938) và nhiều truyện ngắn như “Ai khốn nạn”, “Tiếng vàng”, “Ngoài khơi”.
Gia đình cố Giáo sư Nguyễn Lân.
Ông viết báo và thực hiện các công trình khảo cứu văn học, sử học. Trong đó, công trình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ xuất bản năm 1941 thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu. Công trình này nhấn mạnh vai trò và tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong lịch sử Việt Nam.
Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, Giáo sư Nguyễn Lân là tác giả của nhiều sách phục vụ giảng dạy và học tập tiếng Việt. Các công trình như “Muốn đúng chính tả” (1949), “Viết thế nào cho đúng” (1965, viết chung), “Tôi yêu tiếng Việt” (1995) từng được sử dụng trong nhà trường và được đông đảo bạn đọc quan tâm.
Giáo sư Nguyễn Lân được biết đến nhiều với vai trò là nhà biên soạn từ điển. Trước và sau khi nghỉ hưu, ông đã xuất bản 9 cuốn từ điển. Các công trình tiêu biểu gồm: “Từ điển chính tả phổ thông” (1963); “Thuật ngữ tâm lý giáo dục” (1967); “Từ điển Pháp – Việt” (1981), là công trình tập thể; “Từ điển từ và ngữ Hán – Việt” (1989); “Từ điển Việt – Pháp” (1989), cùng Giáo sư Lê Khả Kế; “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam” (1989); “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Pháp – Việt” (1993); “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt – Pháp” (1994); và “Từ điển từ và ngữ Việt Nam”, do ông một mình biên soạn khi đã 90 tuổi và được xuất bản khi ông 95 tuổi.
Ngoài nghiên cứu khoa học, Giáo sư Nguyễn Lân còn làm thơ. Năm 1994, ông cho ra đời tập thơ “Nhớ nguồn”. Sinh thời, ông có mối quan hệ thân thiết với nhiều trí thức, học giả, trong đó có Giáo sư Vũ Khiêu. Hai ông từng trao đổi thơ ca trong những lần gặp gỡ.
Trong suốt cuộc đời hoạt động xã hội, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, GS Nguyễn Lân là một trong những sáng lập viên của Hội Truyền bá quốc ngữ ở Trung Kỳ. Sau đó, ông giữ chức Hội trưởng Hội Văn hóa cứu quốc Trung Kỳ. Ông là Ủy viên Thường vụ Đảng Xã hội Việt Nam qua nhiều khóa, phụ trách báo Tổ quốc của Đảng Xã hội; đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong nhiều nhiệm kỳ. Khi đã ngoài 90 tuổi, ông là Chủ tịch đầu tiên của Hội Khuyến học Việt Nam.
Không chỉ được biết đến với sự nghiệp cá nhân, GS Nguyễn Lân còn được biết đến khi có gia đình là một trong gia đình "huyền thoại khoa bảng" tiêu biểu nhất Việt Nam với 8 người con đều thành đạt xuất sắc. Họ là những nhà giáo, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong nhiều lĩnh vực y, sinh, ngôn ngữ học, nhạc viện. Truyền thống hiếu học này được kế thừa từ chính GS Nguyễn Lân và vợ, bà Nguyễn Thị Tề.
Chia sẻ về người cha của mình, GS Nguyễn Lân Hùng cho biết, dù sinh ra trong nghèo khó, GS Nguyễn Lân luôn thể hiện tinh thần ham học và kỷ luật lao động nghiêm túc. Cha ông thọ 98 tuổi nhưng làm việc đến năm 95 tuổi. Mỗi ngày, GS Nguyễn Lân làm việc khoảng 10 tiếng, bắt đầu đúng 8 giờ sáng, nghỉ trưa rồi tiếp tục từ 1 giờ chiều, kể cả thứ Bảy và Chủ nhật.
Theo GS Hùng, các con trong gia đình không tự cho mình là những người xuất sắc bẩm sinh. Các con giỏi lên chính là nhờ sự nhắc nhở của bố. GS Nguyễn Lân nói ít nhưng rất sâu sắc và làm tấm gương cho các con cố gắng học hành. “Công đầu tiên phải nói là từ cha tôi”, Giáo sư Nguyễn Lân Hùng chia sẻ. Ông cho biết, chính lối sống, nếp làm việc và tinh thần tự học không ngừng của người cha đã tạo nên nền tảng cho truyền thống học tập của gia đình.
Trong suốt cuộc đời, Giáo sư Nguyễn Lân đã công bố 42 đầu sách thuộc nhiều lĩnh vực. Ông được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Nhà nước về các công trình khoa học.
Giáo sư Nguyễn Lân qua đời ngày 7/8/2003, hưởng thọ 98 tuổi. Đánh giá về ông, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh khẳng định ông là một trong những nhà giáo, nhà khoa học giáo dục tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX.
Mai Loan