Ông Bùi Vĩnh Thắng - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu (GWEC).
Đây là nội dung được các doanh nghiệp nhấn mạnh tại buổi thông tin báo chí về Hội nghị Năng lượng gió châu Á - Thái Bình Dương 2026 (APAC Wind Energy Summit 2026) ngày 26/5.
Ông Bùi Vĩnh Thắng - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Hội đồng Năng lượng Gió Toàn cầu (GWEC) cho biết thị trường điện gió Việt Nam từng có bước tăng trưởng mạnh mẽ sau khi cơ chế giá FIT được ban hành năm 2018. Dù không phải cơ chế hoàn hảo, FIT đã tạo cú hích lớn để thu hút dòng vốn đầu tư vào ngành điện gió. Nhờ đó, đến nay Việt Nam đã có hơn 5,5 GW điện gió trên bờ và gần bờ đi vào vận hành, đóng góp cho hệ thống điện quốc gia.
Tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2021 đến đầu năm 2024 lại chứng kiến khoảng lặng kéo dài khi chưa có cơ chế thay thế rõ ràng. Trong khi đó, thị trường điện gió toàn cầu cũng đối mặt hàng loạt khó khăn như xung đột Nga - Ukraine, lãi suất tăng cao, đứt gãy chuỗi cung ứng hậu COVID-19 và áp lực chi phí đầu tư. Nhiều nhà đầu tư quốc tế đã phải tái cơ cấu danh mục, điều chỉnh thị trường ưu tiên và một số đã rút khỏi Việt Nam sau thời gian dài chờ đợi chính sách.
“Từ cuối năm 2024 đến nay, Chính phủ và Bộ Công Thương đã rất tích cực tháo gỡ các nút thắt chính sách. Hàng loạt cơ sở pháp lý như Quy hoạch Điện VIII điều chỉnh cùng các nghị định mới đã được ban hành. Từ góc độ hiệp hội đại diện doanh nghiệp, chúng tôi đánh giá rất cao nỗ lực này”, ông Thắng nhìn nhận.
Theo đại diện GWEC, đây cũng là lý do tổ chức này quyết định đưa Hội nghị APAC Wind Energy Summit lần thứ tư đến Việt Nam. Sau giai đoạn khó khăn, Việt Nam đang được nhìn nhận là thị trường khởi đầu cho một chu kỳ phát triển mới mà các nhà đầu tư nên sớm quay lại để đón cơ hội.
Ông Thắng cho rằng dù khung pháp lý hiện nay chưa hoàn thiện hoàn toàn, nhưng đã tương đối đầy đủ để thị trường bắt đầu vận hành trở lại. Một số dự án đã được triển khai, kể cả điện gió ngoài khơi khi cơ quan quản lý đã bước đầu giao khảo sát cho các dự án.
Ông Alessandro Antonioli - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Copenhagen Infrastructure Partners.
Cùng chung quan điểm, ông Alessandro Antonioli - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam của Copenhagen Infrastructure Partners (CIP) khẳng định các nhà đầu tư quốc tế vẫn tin tưởng vào nhu cầu điện năng bền vững và tiềm năng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.
“Tại sao chúng tôi vẫn ở đây? Bởi chúng tôi vẫn tin vào những yếu tố nền tảng của thị trường Việt Nam. Dù niềm tin của nhà đầu tư đã bị ảnh hưởng trong vài năm qua do tiến độ hoàn thiện chính sách chậm hơn kỳ vọng. Nhưng chúng tôi tin rằng Chính phủ sẽ có những hành động quyết liệt hơn nhằm tạo ra sự rõ ràng cho nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt liên quan đến thời gian cấp phép, cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện (PPA). Mẫu PPA hiện tại vẫn thiếu các điều kiện cơ bản để đáp ứng yêu cầu vay vốn quốc tế. Nhà đầu tư không thể tiếp tục rót vốn nếu chưa biết rõ điều kiện bán điện của mình”, ông nhấn mạnh.
Đại diện CIP cho rằng Việt Nam đang có cơ hội thúc đẩy mạnh các cơ chế mới như mua bán điện trực tiếp (DPPA/DPN), song các công cụ chính sách cần đủ mạnh và đồng bộ thay vì chỉ là những điều chỉnh nhỏ lẻ.
Ông Ngô Tiến Đạt - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam Suzlon Energy
Trong khi đó, ông Ngô Tiến Đạt - Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam Suzlon Energy đánh giá Việt Nam hiện vẫn nằm trong nhóm thị trường điện gió giàu tiềm năng nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nếu không tính các thị trường quy mô đặc biệt lớn như Trung Quốc hay Ấn Độ.
Việt Nam có lợi thế đáng kể nhờ quy mô công suất lắp đặt hiện hữu tương đối lớn so với các quốc gia lân cận. Quan trọng hơn, thị trường đã tích lũy được kinh nghiệm thực tiễn từ các dự án triển khai giai đoạn trước, từ chủ đầu tư, tổng thầu cho đến các nhà cung cấp thiết bị và dịch vụ.
“Chúng ta đã trải qua rất nhiều bài học thực tế. Đó là lợi thế lớn của Việt Nam so với nhiều thị trường trong khu vực. Dù vậy, sự phát triển của thị trường điện gió trong 5-10 năm tới sẽ chịu ảnh hưởng từ nhiều biến động khó lường của kinh tế và địa chính trị toàn cầu, từ chiến tranh, lạm phát cho tới chi phí logistics và nguyên vật liệu tăng cao. Điều chắc chắn là điện gió Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển, nhưng tốc độ nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách”, ông phân tích.
Ông nhắc lại giai đoạn năm 2021, khi thị trường từng rất lạc quan với kỳ vọng công suất điện gió sẽ tăng mạnh trong các năm tiếp theo. Tuy nhiên, sau đó thị trường gần như chững lại trong suốt 3-4 năm vì thiếu cơ chế mới. Chính sách là vấn đề mà tất cả các bên đều rất quan tâm. Chỉ cần có cơ chế phù hợp và cơ hội phát triển rõ ràng, thị trường có thể bật tăng rất nhanh.
Từ góc nhìn của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đang đứng trước thời điểm quan trọng của quá trình chuyển dịch năng lượng. Tiềm năng tài nguyên gió, nhu cầu điện tăng cao và kinh nghiệm tích lũy từ giai đoạn phát triển trước được xem là nền tảng để thị trường bước vào chu kỳ mới. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tiềm năng đó, yêu cầu cấp thiết nhất vẫn là một khung pháp lý đồng bộ, ổn định và đủ độ tin cậy để khơi thông dòng vốn đầu tư dài hạn cho ngành điện gió.
Phương Thảo