Hạ nhiệt giá phân bón: Lời giải từ chính sách thuế và chuỗi liên kết

Hạ nhiệt giá phân bón: Lời giải từ chính sách thuế và chuỗi liên kết
2 giờ trướcBài gốc
Phân bón là vật tư thiết yếu, chiếm tới 50 - 60% giá thành sản xuất nông nghiệp. Từ năm 2020 đến nay, thị trường phân bón toàn cầu liên tục chao đảo bởi dịch bệnh, xung đột địa chính trị và biến động giá năng lượng.
"Bão giá" nguyên liệu
Giai đoạn 2021–2022, giá phân bón lập đỉnh lịch sử. Sang năm 2023–2024, giá phân bón có hạ nhiệt nhưng từ cuối năm 2025 đến nửa đầu năm 2026, thị trường lại bước vào chu kỳ biến động mới do giá nguyên liệu thô tăng vọt.
Theo Hiệp hội phân bón Việt Nam, nhìn vào bức tranh tổng thể hiện nay, Việt Nam hoàn toàn tự chủ được phân Urê (Đạm) với công suất khoảng 2,9 triệu tấn/năm (trong khi nhu cầu tiêu thụ nội địa chỉ khoảng 1,6 - 1,8 triệu tấn/năm, thừa để xuất khẩu).
Một số nguyên liệu sản xuất phân bón vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu.
Đối với phân Lân (Supe lân và lân nung chảy), năng lực sản xuất đạt hoàn toàn 100% nhu cầu trong nước. Với phân NPK, Việt Nam cũng có dư công suất sản xuất.
Tuy nhiên, Việt Nam lại phụ thuộc hoàn toàn 100% vào nguồn nhập khẩu đối với phân Kali (khoảng 1,1 - 1,2 triệu tấn/năm) do không có mỏ muối Kali. Với phân DAP, năng lực sản xuất của 3 nhà máy trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 60% nhu cầu (tương đương 600.000 tấn).
Trong khi từ cuối năm trước đến nay, do ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế vĩ mô, xung đột địa chính trị thế giới, giá các nguyên liệu cốt lõi tăng mạnh. Lưu huỳnh và Amoniac (nguyên liệu chính để sản xuất DAP, Supe lân) tăng trung bình 15- 25% so với cùng kỳ. Giá khí thiên nhiên thế giới liên tục lên xuống thất thường ở mức cao do áp lực địa chính trị tại Trung Đông và châu Âu. Đặc biệt, chi phí khí thiên nhiên chiếm tới 70 - 80% giá thành sản xuất ra một tấn phân Urê.
Do đó, các chuyên gia cho rằng dù Việt Nam tự chủ được công nghệ và nhà máy, nhưng giá thành sản xuất Urê trong nước vẫn phải điều chỉnh tịnh tiến theo giá năng lượng thế giới.
Ông Trần Biên Cương, Phó Trưởng phòng Kinh doanh Công ty CP Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, cho biết tất cả nguyên liệu đầu vào cho sản xuất phân bón đều tăng. Chẳng hạn như giá Kali trắng tăng 28% so với trước xung đột ở Trung Đông xảy ra, lưu huỳnh có thời điểm ở mức 1.100 USD/tấn.
Điều này gây áp lực lớn, kéo chi phí sản xuất tăng theo. Thậm chí, giá bao bì phục vụ sản xuất phân bón cũng tăng 15-20%. Trong hoạt động vận tải, giá dầu tăng khiến chi phí vận chuyển cũng tăng 25-30%.
Nguyên liệu đầu vào tăng, chi phí sản xuất và vận chuyển tăng nhưng theo ông Trần Biên Cương, giá bán phân bón không thể nào tăng ngay vì đặc thù của ngành phân bón là sự tiếp cận trực tiếp của nông dân, HTX. Nếu giá phân tăng ngay thì nông dân, HTX làm nông nghiệp bị ảnh hưởng. Mà HTX, nông dân bị ảnh hưởng thì tác động ngược lại đến doanh nghiệp sản xuất phân bón.
Do đó, doanh nghiệp sản xuất phân bón đang chịu tác động rất lớn và áp lực không hề nhỏ từ việc khan hiếm nguồn cung và nguyên liệu. Hiệu quả kinh doanh, xoay vòng nguồn vốn của doanh nghiệp sản xuất phân bón sẽ bị giảm đi.
Không dừng lại ở phía đơn vị sản xuất phân bón, ông Nguyễn Văn Đời, Giám đốc HTX Nông nghiệp Bình Thành (Đồng Tháp) cho biết, mặt bằng giá phân bón những ngày cuối tháng 5/2026 vẫn lên rất cao. Phân Urê đã sát mức 700.000 đồng/bao, các dòng NPK cao cấp cũng gần 1 triệu đồng/bao. Như vậy, chi phí đầu tư trên mỗi héc-ta lúa sẽ bị đội lên khá nhiều.
Gỡ nút thắt chính sách thuế và lời giải từ liên kết chuỗi
Giá nguyên liệu đầu vào tăng kéo theo chi phí sản xuất của doanh nghiệp phân bón và chi phí sản xuất nông nghiệp của người dân, HTX tăng theo.
Trong khi nút thắt lớn nhất lúc này được các chuyên gia và doanh nghiệp quan tâm chính là Luật số 71/2014/QH13 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế) . Theo luật này, kể từ năm 2015, phân bón được chuyển từ đối tượng chịu thuế VAT 5% sang đối tượng không chịu thuế VAT.
Hệ lụy của chính sách này sau hơn 11 năm áp dụng được TS. Phùng Hà, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, đánh giá là khiến doanh nghiệp nội địa chịu phần thiệt. Cụ thể là do không thuộc đối tượng chịu thuế, các doanh nghiệp sản xuất phân bón trong nước không được khấu trừ thuế VAT đầu vào (các chi phí về điện, than, hóa chất, bao bì, sửa chữa máy móc... đều phải chịu thuế VAT từ 8- 10%). Toàn bộ phần thuế này doanh nghiệp phải hạch toán vào chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản phẩm từ 5 - 8%.
Ngược lại, phân bón nhập khẩu vào Việt Nam lại không phải gánh phần chi phí VAT đầu vào bị kẹt này, nên có lợi thế cạnh tranh bất bình đẳng.
Do đó, TS. Phùng Hà cho rằng việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến thuế (đặc biệt là kỳ vọng đưa phân bón vào đối tượng chịu thuế VAT với thuế suất hợp lý) sẽ là cú hích lớn. Điều này giúp các doanh nghiệp sản xuất phân bón nội địa được khấu trừ thuế đầu vào, có thêm dư địa hạ giá thành sản phẩm, gia tăng năng lực cạnh tranh sòng phẳng với hàng nhập khẩu.
Bên cạnh đó, khi chi phí sản xuất cấu thành giảm, các doanh nghiệp sẽ có dư địa kinh tế để hạ giá bán phân bón thành phẩm từ 3- 5%. Người nông dân và các HTX sẽ được mua phân bón nội địa với giá rẻ hơn.
Bên cạnh các giải pháp vĩ mô về thuế, các chuyên gia còn chỉ ra bất cập trong cách tiêu thụ phân bón truyền thống. Đó là, sản phẩm từ nhà máy phải đi qua rất nhiều tầng nấc trung gian: từ đại lý cấp 1, đến đại lý cấp 2, rồi đại lý cấp 3 (các cửa hàng vật tư nông nghiệp tại địa phương) trước khi đến tay người nông dân, thành viên HTX.
Mỗi một tầng nấc trung gian như vậy đều cộng thêm chi phí quản lý, chi phí kho bãi, chi phí logistics và biên lợi nhuận của đại lý đó, làm giá bán cuối cùng bị đội lên đáng kể khi đến tay người dân, HTX.
Do đó, trong điều kiện thị trường biến động như hiện nay, cần đẩy mạnh mô hình liên kết chuỗi giá trị giữa doanh nghiệp sản xuất phân bón với hệ thống Liên minh HTX, các HTX nông nghiệp quy mô lớn.
Theo ông Trần Biên Cương, việc cung ứng trực tiếp phân bón từ nhà máy đến các HTX nông nghiệp quy mô lớn mang lại nhiều giá trị cốt lõi. Điều đầu tiên mang lại đó là sẽ cắt bỏ các tầng nấc trung gian giúp giá phân bón cung ứng trực tiếp cho các thành viên HTX giảm được từ 5- 10% so với việc người nông dân đi mua nhỏ lẻ bên ngoài thị trường.
HTX khi nhận hàng trực tiếp từ hệ thống xe vận tải của nhà máy, có đầy đủ hóa đơn, chứng từ chứng nhận chất lượng. Điều này triệt tiêu hoàn toàn rủi ro mua phải nạn phân bón giả, phân bón nhái hoặc phân bón bị bòn rút hàm lượng dinh dưỡng. Đây là vấn nạn đang gây nhức nhối và làm thiệt hại nặng nề cho mùa màng của nông dân.
Thêm nữa, khi liên kết với HTX, doanh nghiệp phân bón không chỉ bán sản phẩm mà còn cử cán bộ kỹ thuật xuống phối hợp cùng hệ thống Liên minh HTX địa phương tổ chức các mô hình trình diễn, hướng dẫn quy trình bón phân 'đúng – đủ – kịp thời'. Sự chuyển giao bài bản này giúp các HTX tối ưu hóa toàn bộ chi phí đầu vào của một vụ mùa.
Tuy nhiên, các HTX, hộ nông dân cũng cần chủ động thay đổi tư duy, chuyển từ phương thức mua bán nhỏ lẻ, manh mún sang liên kết chuỗi quy mô lớn với nhà sản xuất; chuyển từ thói quen bón phân truyền thống sang sử dụng các dòng phân bón công nghệ cao, phân bón hữu cơ vi sinh để vừa tiết kiệm chi phí, vừa nâng cao được năng lực nội tại trước sự biến động của thị trường.
Huyền Trang
Nguồn Vnbusiness : https://vnbusiness.vn/ha-nhiet-gia-phan-bon-loi-giai-tu-chinh-sach-thue-va-chuoi-lien-ket.html