Hà Nội sẽ có các KCN, khu CNC hiện đại, đảm bảo về môi trường
Thông tin tại Hội thảo khoa học chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu của TP Hà Nội sang mô hình khu công nghiệp- sinh thái- công nghệ cao, khu công nghiệp- đô thị- dịch vụ: Bài học thực tiễn từ các địa phương và giải pháp đặc thù của Thủ đô diễn ra ngày 20-4, Ban Quản lý các khu công nghệ cao và khu công nghiệp (Ban Quản lý) Hà Nội cho hay, bản chất về nguy cơ “bãi rác công nghệ” trong các khu công nghiệp là sự chậm chuyển đổi mô hình phát triển khu công nghiệp/khu công nghệ cao (KCN/KCNC).
Trong cùng một không gian công nghiệp vẫn tồn tại khá nhiều dây chuyền công nghệ lạc hậu, thâm dụng lao động và tài nguyên, phát thải lớn; trong khi yêu cầu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao.
Bên cạnh đó, hạ tầng số và công cụ quản trị theo dữ liệu ở nhiều khu chưa đồng bộ; cơ chế gắn trách nhiệm chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp thứ cấp vào các chỉ tiêu năng suất đất - công nghệ - môi trường chưa đủ chặt.
Theo số liệu thống kê của Ban Quản lý, trong 8 KCN đang hoạt động ổn định cho thấy nhóm ngành tiềm ẩn “công nghệ thấp - phát thải cao” chiếm khoảng 29,6% (tương ứng 223/753 doanh nghiệp).
Tỷ trọng nhóm ngành này cao tại: KCN Quang Minh (41,1%), KCN Nội Bài (37,2%), KCN Thăng Long (29,9%), KCN Phú Nghĩa (25,8%).
Về sử dụng lao động, một số KCN có lao động/ha rất cao như: KCN Sài Đồng B (330,9), KCN Thăng Long (216,6), KCN Nội Bài (147,9).
Về hiệu quả sử dụng đất, nhóm KCN có nộp ngân sách nhà nước trên mỗi hecta thấp nổi bật, gồm: KCN Nam Thăng Long (0,78), KCN Phú Nghĩa (2,07), KCN Quang Minh (3,82).
Có 4 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này. Thứ nhất là trong một giai đoạn dài trước đây, mục tiêu “lấp đầy đất công nghiệp” và tạo công ăn việc làm cho người lao động thường được đặt cao hơn mục tiêu “lấp đầy bằng công nghệ và giá trị”, dẫn tới ngưỡng sàng lọc dự án chưa đủ cao và thiếu cơ chế buộc nâng cấp theo chu kỳ.
Thứ hai, công cụ kiểm soát sau đầu tư, sau cấp phép còn yếu, điều kiện gia hạn đất, điều kiện tiếp tục hoạt động của cơ sở phát thải cao, quy trình kiểm tra - xử lý còn thiếu tính liên thông và tính răn đe.
Thứ ba, hạ tầng môi trường của một số KCN hình thành sớm (đặc biệt là các KCN nâng cấp từ Cụm công nghiệp) được thiết kế theo chuẩn cũ; trong khi yêu cầu mới về quan trắc, xử lý đạt chuẩn ngày càng chặt.
Cuối cùng, chuyển đổi số trong quản trị khu còn chưa đồng đều; thiếu dữ liệu vận hành theo thời gian thực để phát hiện kịp thời vi phạm và cảnh báo sớm, dẫn tới xử lý thường chậm một nhịp so với thực tế.
Ban Quản lý đánh giá, nếu kéo dài tình trạng này, rủi ro môi trường - an toàn tăng; chi phí tuân thủ của doanh nghiệp làm ăn nghiêm túc bị đội lên; niềm tin nhà đầu tư suy giảm; năng lực cạnh tranh thu hút dự án công nghệ cao bị ảnh hưởng; quỹ đất công nghiệp bị “khóa” vào mô hình tăng trưởng cũ.
Theo Ban quản lý, Hà Nội không thể cạnh tranh theo cách “đất rẻ - lao động rẻ”. Giá thuê đất công nghiệp của thành phố cao hơn nhiều địa phương lân cận; nếu vẫn thu hút bằng dự án gia công công nghệ thấp thì vừa khó thu hút, vừa khóa chặt quỹ đất vào mô hình tăng trưởng cũ, kéo theo hệ lụy môi trường và an sinh.
Vì vậy, xử lý “bãi rác công nghệ” thực chất là lựa chọn dự án theo chuẩn công nghệ - môi trường - năng suất đất, và vận hành cơ chế buộc nâng cấp/đào thải trong suốt vòng đời dự án.
Theo kế hoạch hành động năm 2026, Ban Quản lý cho biết sẽ chấn chỉnh đồng thời hai việc, là xử lý dứt điểm các “điểm nóng” về phế thải, xả thải, kho bãi tạm, sử dụng đất sai mục đích; Và rà soát, phân loại và “lọc” nhóm cơ sở/dự án công nghệ thấp, phát thải cao để có lộ trình nâng cấp hoặc di dời.
Trong quý II/2026, tổ chức một đợt cao điểm liên ngành theo “bản đồ điểm nóng” của từng khu (đất trống, tuyến đường nội bộ, hệ thống thoát nước, môi trường, điểm tập kết vật liệu/phế thải).
Mục tiêu là làm sạch hiện trường và ngăn tái diễn ngay từ đầu: cưỡng chế dọn dẹp, thu gom - vận chuyển theo đúng quy định; rào chắn các lối đổ trộm; lắp camera tại cổng và các vị trí xung yếu; lập sổ theo dõi vi phạm và xử lý tái phạm theo thẩm quyền.
Ban Quản lý chịu trách nhiệm tổng hợp bản đồ điểm nóng, đề xuất danh sách cơ sở/điểm vi phạm; chủ đầu tư hạ tầng chịu trách nhiệm tổ chức thu gom trong KCN; UBND xã/phường nơi có KCN chịu trách nhiệm phối hợp ngăn chặn trên địa bàn; lực lượng công an và thanh tra chuyên ngành xử lý hành vi đổ thải trái phép, vi phạm trật tự xây dựng.
Về dài hạn, năm 2026-2027, sẽ chuẩn hóa tối thiểu hạ tầng kỹ thuật và môi trường; Từ năm 2026-2028, sẽ số hóa giám sát để không tái diễn; và từ 2030-2035, tái cấu trúc KCN cũ - chuyển đổi mô hình để nâng năng suất sử dụng đất.
H.L