Theo số liệu từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, tổng khối lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh trên địa bàn thành phố thường vào khoảng 2.100 tấn/ngày.
Tuy nhiên, với việc triển khai 7 dự án cầu qua sông Hồng, khép kín các đường vành đai 1, 2, 2,5, 3, 3,5 và 4; mở rộng quốc lộ 1, quốc lộ 6, đường nối đại lộ Thăng Long với cao tốc Hà Nội - Hòa Bình…, khối lượng phế thải xây dựng tăng gấp 4-5 lần, lên tới khoảng 10.000 tấn/ngày. Trong khi đó, tổng công suất tiếp nhận của 4 điểm xử lý hiện có của thành phố chỉ đạt khoảng 1.670 tấn/ngày, vốn là một khoảng cách quá xa so với thực tế.
Xoay quanh bài toán tìm kiếm giải pháp kỹ thuật và công nghệ để giải quyết áp lực này theo hướng kinh tế tuần hoàn, Người Đô Thị đã có cuộc trao đổi chuyên sâu với GS-TS. Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội. Chuyên gia này cho rằng Hà Nội cần chuyển sang mô hình quản lý dòng vật liệu xây dựng theo vòng đời công trình, trong đó chất thải rắn xây dựng sau phá dỡ được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp.
Hà Nội đang bước vào chu kỳ tái thiết đô thị quy mô lớn với hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm. Cùng với những công trình mới, mỗi ngày cũng phát sinh hàng chục nghìn tấn phế thải xây dựng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái chế và quản lý theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Ảnh: Ngọc Phạm
Từ bê tông vụn đến “mỏ vật liệu” mới
Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là nguồn tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và đưa trở lại chu trình sản xuất, tiêu dùng. Cụ thể, theo khoản 5 Điều 64 dự thảo, chất thải rắn còn giá trị sử dụng phải được tái chế, tái sử dụng cho các mục đích phù hợp. Đất, đá, bê tông, gạch, cát và các loại chất thải trơ khác phát sinh từ hoạt động xây dựng được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng hoặc san lấp mặt bằng cho các dự án, hoạt động có mục đích cụ thể theo nhu cầu của tổ chức, cá nhân.
Ông nhận định như thế nào về điểm đề xuất mới này trong dự thảo luật sửa đổi? Dưới góc nhìn của một nhà khoa học, vì sao “chất thải” lại được xem là một tài nguyên?
GS-TS. Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.
GS-TS. Nguyễn Hoàng Giang: Tôi cho rằng đây là điểm rất quan trọng và phù hợp với hiện trạng phát triển của Việt Nam. Đất, đá, bêtông, gạch, cát và các loại chất thải trơ khác phát sinh từ hoạt động xây dựng, hay còn gọi là chất thải rắn xây dựng, nếu được phân loại, thu gom, tái chế phù hợp sẽ thành vật liệu có giá trị nhằm thay thế một phần vật liệu tự nhiên. Như tại Nhật Bản, Luật Quản lý và Xử lý chất thải được ra đời năm 1970 và Luật Tái chế Xây dựng được ra đời năm 2000 đã giúp việc quản lý tái chế chất thải rắn xây dựng rất hiệu quả đến 98%.
Do đó, chất thải sau khi xử lý đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật và có giá trị sử dụng hoàn toàn có thể được xem là một nguồn tài nguyên.
Để tái chế phế thải xây dựng, công nghệ xử lý có lẽ là yếu tố quyết định. Xin Giáo sư cho biết năng lực thực tế của công nghệ tái chế phế thải xây dựng tại Việt Nam hiện đang nằm ở ngưỡng nào?
Công nghệ là yếu tố quan trọng, tuy nhiên, không phải là yếu tố duy nhất. Để triển khai quản lý, thu gom, tái chế chất thải rắn xây dựng hiệu quả, cần triển khai đồng bộ từ khâu quy hoạch, xác định trạm trung chuyển, trung tâm tái chế, quy định công tác phân loại, vận chuyển và tái chế phù hợp. Cần hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, đơn giá, định mức cho các trung tâm, trạm trung chuyển và vật liệu sau tái chế.
Hiện chúng ta có Quyết định 862/QĐ-BXD chỉ dẫn kỹ thuật cho việc “Quy trình thu gom và phân loại chất thải rắn xây dựng tại công trình phá dỡ” hay các TCVN 13694: 2023 “Cấp phối tái chế từ chất thải rắn xây dựng làm lớp móng đường giao thông đô thị - yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử”; TCVN 13946:2024 Vật liệu san lấp tái chế từ phế thải phá dỡ công trình. Tuy nhiên, trên thực tế, các chính sách hỗ trợ, quy định cho sản phẩm tái chế từ chất thải rắn xây dựng vẫn còn thiếu.
Trong khuôn khổ Dự án SATREPS “Thiết lập hệ thống quản lý phế thải xây dựng hiệu quả nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường và tăng cường khả năng chế tạo các loại vật liệu mới từ phế thải xây dựng tái chế ở Việt Nam” giai đoạn 2018 – 2023 do Chính phủ Nhật Bản, JICA tài trợ, chúng tôi đã có các nghiên cứu và thí điểm về quản lý, xây dựng tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật, phân loại và thiết kế dây chuyền tái chế chất thải rắn xây dựng, bao gồm cả ứng dụng bê tông thấm nước từ chất thải rắn xây dựng tái chế làm đường, vỉa hè, bãi đỗ xe thấm nước tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội và các địa điểm khác. Do đó, hiện chúng ta có thể làm chủ công nghệ và triển khai thực tiễn.
Những khối bê tông, gạch đá sau phá dỡ không chỉ là chất thải. Theo các chuyên gia, nếu được phân loại và xử lý đúng quy trình, chúng có thể trở thành nguồn vật liệu thứ cấp phục vụ san lấp, làm nền đường hoặc sản xuất vật liệu xây dựng mới. Ảnh: PV
Khối lượng phế thải xây dựng tại Hà Nội đang tăng gấp nhiều lần do các dự án giao thông và chỉnh trang đô thị đồng loạt triển khai. Bài toán hiện nay không chỉ là phá dỡ nhanh mà còn là quản lý hiệu quả toàn bộ vòng đời vật liệu sau công trình. Ảnh: PV
Biến áp lực môi trường thành cơ hội tái cấu trúc quản trị đô thị
Trở lại áp lực thực tế của Hà Nội, khi hệ thống hạ tầng tiếp nhận vốn đã quá tải của thành phố hiện chỉ đáp ứng được khoảng 20% lượng phế thải phát sinh mỗi ngày. Từ góc nhìn chuyên môn và kinh nghiệm nghiên cứu các mô hình đô thị nén trên thế giới, ông có đề xuất giải pháp gì để nâng cao năng lực tái chế phế thải xây dựng cho Hà Nội trong bối cảnh hiện nay?
Theo tôi, với Hà Nội hiện nay, giải pháp không thể chỉ là tìm thêm bãi đổ. Nếu khối lượng chất thải rắn xây dựng tăng lên hàng chục nghìn tấn mỗi ngày, cách tiếp cận truyền thống “thu gom – vận chuyển – chôn lấp” chắc chắn sẽ quá tải. Hà Nội cần chuyển sang mô hình quản lý dòng vật liệu xây dựng theo vòng đời công trình, trong đó chất thải rắn xây dựng sau phá dỡ được xem là nguồn tài nguyên thứ cấp.
Theo Quyết định 2831/2025, thành phố đã phê duyệt Đề án “Tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn đến năm 2030”. Tuy nhiên, với tình hình hiện tại, chúng ta cần có quy hoạch lựa chọn ngay các địa điểm cho trạm trung chuyển và trung tâm xử lý tái chế chất thải rắn xây dựng.
Các tiêu chuẩn định mức cho sản phẩm vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng cũng cần được ban hành để sản phẩm nhanh chóng được đưa vào sử dụng. Thành phố cũng có các chính sách khuyến khích sử dụng vật liệu tái chế cho các công trình trên địa bàn như làm bê tông có khả năng thấm nước cho đường, vỉa hè hay bãi đỗ xe nhằm giúp chống ngập, làm mát đô thị và tái chế vật liệu. Thành phố có thể làm thí điểm đánh giá hiệu quả, chất lượng, từ đó nhân rộng trên quy mô lớn.
Việc thu gom, vận chuyển và kiểm soát dòng phế thải xây dựng là mắt xích quan trọng trong hệ thống quản lý đô thị. Các chuyên gia đề xuất xây dựng mạng lưới trạm trung chuyển và trung tâm tái chế nhằm giảm áp lực cho các điểm xử lý hiện hữu. Ảnh: PV
Đất, đá, gạch, bê tông và nhiều loại vật liệu trơ khác có thể được tái sử dụng sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn kỹ thuật. Đây được xem là hướng đi giúp giảm khai thác tài nguyên tự nhiên và thúc đẩy ngành vật liệu xây dựng xanh. Ảnh: PV
Một trong những rào cản lớn trong việc e ngại sử dụng vật liệu xây dựng tái chế có lẽ là do tính an toàn, độ bền cũng như những tiêu chuẩn kỹ thuật cụ thể. Theo ông, để vật liệu xây dựng tái chế được sử dụng rộng rãi, những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cốt lõi nào sẽ cần được chú trọng tới?
Đúng là để vật liệu tái chế được sử dụng rộng rãi thì cần tạo niềm tin cho người sử dụng, thông qua việc đảm bảo vật liệu này đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật.
Hiện chúng ta đã có một số tiêu chuẩn như Quyết định 862/QĐ-BXD chỉ dẫn kỹ thuật cho việc “Quy trình thu gom và phân loại chất thải rắn xây dựng tại công trình phá dỡ” hay các TCVN 13694: 2023 “Cấp phối tái chế từ chất thải rắn xây dựng làm lớp móng đường giao thông đô thị - yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử”; TCVN 13946:2024 Vật liệu san lấp tái chế từ phế thải phá dỡ công trình.
Nếu Hà Nội xử lý tốt bài toán tái chế chất thải rắn xây dựng trong chu kỳ tái thiết đô thị hiện nay, tác động sẽ vượt xa phạm vi của một ngành xử lý chất thải thông thường. Hoạt động này sẽ làm thay đổi cách thành phố quản trị tài nguyên, quản lý công trường, tổ chức vận tải, kiểm soát môi trường và phát triển vật liệu xây dựng.
Chúng tôi hiện cũng đang thực hiện nhiệm vụ của Bộ Xây dựng nhằm nghiên cứu xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tái chế và sử dụng chất thải rắn xây dựng. Các tiêu chuẩn đưa ra sẽ giúp việc áp dụng chất thải rắn xây dựng được rộng rãi hơn.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần sớm hoàn thiện định mức, đơn giá cho vật liệu này nhằm thúc đẩy việc ứng dụng mạnh mẽ hơn nữa.
Kinh tế tuần hoàn không chỉ giải quyết câu chuyện của những khối bê tông cũ, mà suy cho cùng là vì chất lượng sống của con người. Nếu giải quyết triệt để được bài toán “tái sinh” rác thải xây dựng từ chu kỳ tái thiết này bằng công nghệ xử lý hiện đại, hiệu quả cao, mô hình này sẽ thay đổi diện mạo quản trị đô thị và tác động tích cực như thế nào đến môi trường sống của người dân Thủ đô, thưa ông?
Tôi cho rằng nếu thành phố Hà Nội xử lý tốt bài toán tái chế chất thải rắn xây dựng trong chu kỳ tái thiết đô thị hiện nay, tác động sẽ vượt xa phạm vi của một ngành xử lý chất thải thông thường. Hoạt động này sẽ làm thay đổi cách thành phố quản trị tài nguyên, quản lý công trường, tổ chức vận tải, kiểm soát môi trường và phát triển vật liệu xây dựng.
Lợi ích trực tiếp đầu tiên là giúp giảm áp lực lên các bãi đổ và giảm tình trạng đổ trộm chất thải rắn xây dựng. Khi chất thải rắn xây dựng được phân loại, vận chuyển và tái chế có kiểm soát, thành phố sẽ giảm bụi, giảm ô nhiễm, cải thiện mỹ quan đô thị. Đây là những tác động rất gần với đời sống hằng ngày của người dân.
Thứ hai, tái chế chất thải rắn xây dựng giúp giảm khai thác tài nguyên tự nhiên như cát, đá, đất san lấp. Một phần bê tông, gạch, đất đá sau phá dỡ có thể quay trở lại làm vật liệu san lấp, cấp phối nền đường, gạch không nung, bê tông thấm nước, cấu kiện hạ tầng. Như vậy, đô thị tự tạo ra nguồn vật liệu thứ cấp cho chính quá trình phát triển của mình.
Tái chế chất thải rắn xây dựng không chỉ giải quyết áp lực môi trường trước mắt mà còn góp phần định hình mô hình phát triển đô thị tuần hoàn. Từ những công trình cũ được tháo dỡ, một nguồn vật liệu mới có thể tiếp tục phục vụ cho sự phát triển của thành phố. Ảnh: PV
Thứ ba, nếu có hệ thống dữ liệu số thông minh quản lý từng công trình, từng chuyến xe và từng cơ sở tiếp nhận, Hà Nội sẽ chuyển sang quản lý dựa trên dữ liệu, từ đó có kế hoạch kiểm soát và quy hoạch hệ thống. Về lâu dài, mô hình này sẽ góp phần hình thành một ngành công nghiệp vật liệu tái chế, tạo việc làm xanh, thúc đẩy đổi mới công nghệ và giảm phát thải trong xây dựng. Quan trọng hơn, người dân sẽ được sống trong một đô thị sạch hơn, ít bụi hơn, ít xe chở chất thải rắn xây dựng chạy trên đường đổ trộm hơn và có nhiều công trình hạ tầng sử dụng vật liệu bền vững hơn.
Nói cách khác, tái chế chất thải rắn xây dựng không chỉ là xử lý phần còn lại của quá trình phá dỡ. Đó là cách Hà Nội biến một áp lực môi trường thành cơ hội tái cấu trúc quản trị đô thị, hướng tới một Thủ đô xanh hơn, tuần hoàn hơn và đáng sống hơn.
Ngọc Phạm thực hiện