Hồ điều hòa Phương Lưu có vai trò quan trọng trong tiêu thoát nước cho đô thị phía Đông Hải Phòng.
Trước thực trạng hạ tầng thoát nước, xử lý nước thải còn hạn chế, chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa, HĐND TP. Hải Phòng đề nghị UBND thành phố thực hiện điều chỉnh quy hoạch, ưu tiên đẩy nhanh tiến độ các dự án, công trình trọng điểm nhằm nâng cao năng lực tiêu thoát nước, thích ứng với biến đổi khí hậu cho đô thị.
THIẾU HẠ TẦNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐÔ THỊ
Theo quy hoạch đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050, khu vực phía Đông thành phố dự kiến có 30 nhà máy, trạm xử lý nước thải đô thị được đầu tư và đưa vào vận hành. Tuy nhiên, đến nay, số nhà máy, trạm xử lý nước thải được xây dựng, vận hành còn tương đối hạn chế, mới có 6 nhà máy, trạm xử lý nước thải được đầu tư.
Trong đó, mới có Nhà máy xử lý nước thải Vĩnh Niệm (công suất 36.000 m3/ngày đêm), Nhà máy xử lý nước thải VSIP (9.500 m3/ngày đêm) và 3 trạm xử lý nước thải tại đảo Cát Bà (tổng công suất 3 trạm khoảng 9.500 m3/ngày đêm) đi vào hoạt động khai thác. Còn dự án Nhà máy xử lý nước thải Bắc sông Cấm 1 thuộc Khu đô thị mới Bắc sông Cấm hiện vẫn đang trong giai đoạn đầu tư, chưa vận hành.
Tại khu vực phía Tây, hiện có 2 nhà máy xử lý nước thải đô thị được đầu tư. Trong đó, Nhà máy xử lý nước thải Ngọc Châu (phường Hải Dương) mới chỉ xử lý cơ học, chưa qua xử lý sinh học nên chất lượng nước sau xử lý chưa đạt chuẩn, không đủ điều kiện cấp phép xả thải. Nhà máy xử lý nước thải Lộ Cương (trên địa bàn phường Tứ Minh) thuộc dự án phát triển tổng hợp các đô thị động lực thành phố Hải Dương (trước đây) bị chậm tiến độ nhiều năm và đến nay vẫn chưa được đưa vào vận hành.
Trong số 8 nhà máy, trạm xử lý nước thải đô thị nêu trên, chỉ có 2 nhà máy cấp thành phố là Nhà máy nước thải Vĩnh Niệm và Nhà máy nước thải Ngọc Châu đang vận hành nhưng chỉ có Nhà máy xử lý nước thải Vĩnh Niệm vận hành hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu xử lý nước thải đô thị theo quy định.
Do hạ tầng thoát nước và thu gom nước thải trên địa bàn thành phố còn thiếu đồng bộ (nhiều khu vực chưa có hệ thống tách riêng nước mưa và nước thải), phần lớn nước thải sinh hoạt sau bể tự hoại tiếp tục xả vào hệ thống thoát nước chung. Thậm chí, tại một số địa phương, nước thải chưa qua xử lý được xả trực tiếp ra sông, kênh mương gây ô nhiễm môi trường.
HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC THIẾU ĐỒNG BỘ
Thành phố Hải Phòng cũng đang đối mặt với tình trạng ngập úng cục bộ diễn ra thường xuyên tại nhiều khu vực trọng điểm như ga Thượng Lý, đường Hùng Vương (các phường Hồng Bàng, Hồng An) và các tuyến Ngô Quyền, Lê Thanh Nghị (phường Lê Thanh Nghị), nhất là khi xuất hiện mưa lớn hoặc thời tiết cực đoan.
Công tác xử lý ngập lụt trong những năm gần đây dù đã được quan tâm nhưng vẫn chủ yếu xử lý cục bộ, chưa hình thành giải pháp đồng bộ toàn hệ thống. Hệ thống cống hiện hữu phần lớn đã xuống cấp, chắp vá, tiết diện nhỏ, chỉ đáp ứng các trận mưa dưới 50mm, không còn phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu hiện nay. Hệ thống trạm bơm, kênh dẫn nước, hồ điều hòa đa số được đầu tư từ lâu, việc duy tu, bảo dưỡng còn hạn chế dẫn đến xuống cấp, hư hỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu tiêu thoát nước.
Tại khu vực phía Tây thành phố, các trạm bơm trọng điểm như Nước Thần, Cống Sổ và Thượng Chiều nằm trong quy hoạch thủy lợi vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020, giữ vai trò quan trọng trong tiêu thoát nước nội đồng cho lưu vực sông Thái Bình và hệ thống Bắc Hưng Hải. Tuy nhiên, các công trình này vẫn chưa được đầu tư xây dựng. Các khu vực Lạc Dục, Đò Neo, sông Rùa, Cổ Ngựa, Hồng Lạc, Văn Thai, Kênh Trung còn thiếu hệ thống cống, làm hạn chế khả năng điều tiết nội đồng với hệ thống sông trong khu vực.
Khu vực phía Đông thành phố, theo quy hoạch có 33 hồ điều hòa với tổng diện tích 3.930ha nhưng thực tế mới triển khai hơn 74,25ha. Toàn thành phố cũng chỉ có hơn 117ha hồ điều hòa. Quy mô này quá thấp so với quy hoạch, làm suy giảm đáng kể khả năng trữ và điều tiết nước, khiến nguy cơ ngập úng ngày càng gia tăng. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa làm gia tăng diện tích bê tông hóa và làm thay đổi độ cao nên, độ cao tuyến cống và lưu vực thoát nước cũng là nguyên nhân gây ngập lụt cục bộ.
ĐẨY NHANH DỰ ÁN XỬ LÝ NƯỚC THẢI
HĐND TP. Hải Phòng xác định tỷ lệ nước thải sinh hoạt đô thị được thu gom, xử lý của thành phố mới đạt khoảng 32,22%. Đáng chú ý là hầu hết các cụm công nghiệp hình thành trước năm 2009 chưa được đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung. Một số cụm công nghiệp như Long Xuyên (phường Kinh Môn) và Ngô Quyền (phường Thành Đông) nằm xen kẽ trong khu dân cư đô thị, nước thải phát sinh phần lớn chưa được xử lý đạt chuẩn nhưng vẫn xả vào hệ thống chung, làm gia tăng áp lực lên môi trường.
Tại khu vực phía Tây thành phố còn chưa có khu xử lý bùn thải tập trung. Lượng bùn phát sinh từ hệ thống thoát nước sau thu gom chủ yếu được tập kết tạm thời hoặc vận chuyển đi nơi khác xử lý, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm thứ cấp nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Theo HĐND TP. Hải Phòng, nguyên nhân của tình trạng trên là do thời gian qua thành phố chưa dành đủ nguồn lực đầu tư cho hạ tầng thoát nước, xử lý nước thải theo quy hoạch. Nguồn vốn cho các lĩnh vực này chủ yếu dựa vào vốn ODA. Bên cạnh đó, việc phân công, phối hợp quản lý nhà nước giữa Sở Xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường và chính quyền địa phương còn chưa rõ ràng, thiếu cơ chế phối hợp liên ngành.
HĐND TP. Hải Phòng đề nghị UBND thành phố thực hiện điều chỉnh quy hoạch thoát nước và xử lý nước thải phù hợp với tốc độ đô thị hóa, đồng thời, thích ứng với biến đổi khí hậu. Cùng với việc xác định mức độ ưu tiên của các dự án, cần khẩn trương hoàn thành hạ tầng đấu nối đưa Nhà máy xử lý nước thải Lộ Cương vào hoạt động và đảm bảo chất lượng xử lý tại các nhà máy hiện có.
Đối với các dự án lớn sử dụng vốn ODA như dự án hệ thống thu gom và xử lý nước thải tại một số đô thị tỉnh Hải Dương (cũ) tổng mức đầu tư 1.498 tỷ đồng, dự án phát triển bền vững khu vực Đông Nam thành phố Hải Phòng thích ứng biến đổi khí hậu, tổng mức đầu tư hơn 9.783 tỷ đồng cần tập trung thực hiện đúng tiến độ. Đồng thời, thành phố cần lập danh mục các ao hồ không được san lấp, tiếp tục mở rộng diện tích hồ điều hòa theo quy hoạch.
Nam Khánh