Hành lang pháp lý bảo vệ di sản Hội An

Hành lang pháp lý bảo vệ di sản Hội An
4 giờ trướcBài gốc
Một góc Đô thị cổ Hội An. Ảnh: Kim Liên
Áp lực từ thực tiễn
Dự thảo quy chế gồm 12 chương, bao quát toàn diện các nội dung từ bảo tồn kiến trúc, cảnh quan đến di sản phi vật thể, tư liệu và hoạt động du lịch, kinh doanh. Việc phân vùng bảo vệ (khu vực I, IIA, IIB), phân loại giá trị công trình (từ loại đặc biệt đến loại IV) cho thấy cách tiếp cận khoa học, có cơ sở.
Các quy định về vật liệu xây dựng, chiều cao công trình, màu sắc, ánh sáng, hạ tầng kỹ thuật… được thiết kế chặt chẽ nhằm bảo vệ không gian cổ kính đặc trưng. Đồng thời, quy chế cũng mở rộng phạm vi bảo vệ ra các khu vực phụ cận, thể hiện tư duy bảo tồn theo vùng thay vì chỉ giới hạn trong lõi di sản. Đáng chú ý, dự thảo đã nhấn mạnh nguyên tắc cân bằng giữa bảo tồn và phát triển bền vững, một yêu cầu cốt lõi nhưng cũng là thách thức lớn trong quá trình thực hiện.
Một trong những điểm tiến bộ của dự thảo là mở rộng khái niệm bảo tồn sang cả di sản phi vật thể và di sản tư liệu. Các giá trị như: lễ hội, tập quán, nghề truyền thống, đời sống tín ngưỡng… được xác định là “hồn cốt” của Hội An. Việc gắn bảo tồn với không gian thực hành như: đình, chùa, miếu, hội quán, nhà thờ tộc… giúp duy trì tính liên tục văn hóa, tránh tình trạng “di sản hóa” hình thức. Song song với đó, di sản tư liệu như: sắc phong, hoành phi, liễn đối, mộc bản, khế ước, địa bạ, bản đồ, sơ đồ, tranh… cũng được chú trọng thông qua các giải pháp kiểm kê, số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu. Đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh nhiều tư liệu đang xuống cấp theo thời gian.
Ngoài ra, công tác tổ chức tham quan và hoạt động dịch vụ du lịch đang được định hướng theo nguyên tắc hài hòa giữa bảo tồn và khai thác. Theo đó, vai trò và trách nhiệm của từng chủ thể - từ cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp du lịch, đội ngũ hướng dẫn viên đến chính du khách được xác định rõ ràng nhằm bảo đảm mọi hoạt động đều gắn với mục tiêu gìn giữ giá trị di sản. Cùng với đó, các hoạt động kinh doanh, trưng bày, quảng cáo… trong khu phố cổ cũng được quản lý chặt chẽ theo quy định nhằm hạn chế tối đa những yếu tố có thể làm biến dạng không gian kiến trúc và cảnh quan, góp phần bảo tồn tính nguyên gốc và duy trì giá trị bền vững của đô thị cổ.
Cần giải pháp đồng bộ
Thực tế tại Hội An cho thấy, phần lớn nhà cổ thuộc sở hữu tư nhân. Trong tổng số các di tích kiến trúc tại khu vực I phố cổ, có tới 953 căn thuộc sở hữu riêng, trong khi sở hữu chung chỉ chiếm 188 căn. Điều này đồng nghĩa với việc người dân vừa là chủ thể trực tiếp tham gia bảo tồn, vừa là đối tượng chịu tác động mạnh từ các quy định quản lý. Do đó bài toán hỗ trợ từ ngân sách nhà nước cần được nghiên cứu, tính toán phù hợp hơn với thực tiễn. Tại khu vực I, mức hỗ trợ dự kiến là 60% kinh phí đối với di tích loại đặc biệt, 45% đối với di tích loại I và II và 40% đối với di tích loại III, IV; phần kinh phí còn lại do chủ sở hữu tự cân đối. Đối với khu vực IIA, Nhà nước hỗ trợ 40% cho mỗi hạng mục, phần còn lại người dân phải tự chi trả.
Đáng chú ý, số lượng di tích thuộc nhóm đặc biệt, đối tượng được hưởng mức hỗ trợ cao nhất chỉ có 37 căn, chiếm tỷ lệ rất nhỏ, điều này cho thấy chính sách cần xem xét điều chỉnh để khuyến khích người dân tích cực tham gia gìn giữ và phát huy giá trị di sản.
Bên cạnh đó, điều kiện tiếp cận chính sách cần phải linh hoạt hơn, nhất là các hộ dân còn gặp khó khăn trong quá trình tu bổ, tôn tạo di tích, thời điểm nhà, đất chưa qua mua bán, chuyển nhượng…
Song song với đó, áp lực phát triển du lịch hiện nay tại Hội An, với lượng khách tăng nhanh dẫn đến quá tải vào giờ cao điểm, gia tăng rác thải, ô nhiễm tiếng ồn và biến đổi không gian sống. Nhiều tuyến phố trở thành “phố thương mại” thay vì không gian cư trú truyền thống. Điều này cho thấy việc quản lý du lịch hiện nay vẫn thiên về kiểm soát hành chính mà chưa thực sự chú trọng nhiều đến công tác điều tiết dòng khách và nâng cao chất lượng trải nghiệm giá trị di sản.
Mặt khác, trong dự thảo, một số quy định cho thấy xu hướng bảo tồn theo hướng gần như “nguyên trạng tuyệt đối”, kể cả các yếu tố cảnh quan, môi trường sinh thái… trong khu phố cổ. Tuy nhiên, cách tiếp cận này cần phải xem xét phân tích thêm bởi việc bắt buộc sử dụng các yếu tố gốc về vật liệu truyền thống có thể chưa phù hợp với điều kiện kinh tế và kỹ thuật hiện nay, do vậy cần quy định rõ hơn để thuận tiện cho việc tu bổ. Đặc biệt, việc quy định cấm các yếu tố hiện đại như: đèn LED hay pin năng lượng mặt trời… cần được xem xét thêm, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu tiết kiệm năng lượng, việc tích hợp công nghệ là xu hướng tất yếu.
Để bảo tồn hiệu quả đô thị cổ mà vẫn đảm bảo sinh kế cho người dân, cần một hệ thống giải pháp đồng bộ. Trước hết đặt cộng đồng vào trung tâm, người dân cần được tham gia vào quá trình ra quyết định, từ quy hoạch đến xây dựng chính sách. Các mô hình “du lịch cộng đồng”, “nhà cổ sống” cần được khuyến khích để người dân vừa bảo tồn vừa khai thác giá trị di sản.
Bên cạnh đó, xem xét tính toán tỷ lệ hỗ trợ thoáng hơn, phù hợp với điều kiện của từng gia đình, không nên ràng buộc với các điều kiện cứng nhắc. Ngoài ra, cần linh hoạt trong quy định kỹ thuật, cho phép sử dụng vật liệu hiện đại nhưng có hình thức tương thích.
Song song đó, tập trung các yếu tố xanh trong phát triển du lịch tại vùng lõi phố cổ... Đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để số hóa di sản, quản lý xây dựng bằng hệ thống thông minh, phát triển nền tảng du lịch số để giảm áp lực trực tiếp lên không gian vật lý.
Dự thảo Quy chế bảo vệ Di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An là một nền tảng quan trọng cho công tác quản lý di sản trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, để quy chế phát huy hiệu quả, cần có sự điều chỉnh theo hướng linh hoạt, thực tiễn và nhân văn hơn. Bảo tồn di sản không thể tách rời khỏi đời sống con người. Chỉ khi người dân được đảm bảo sinh kế, được trao quyền và được hưởng lợi từ di sản họ mới thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong việc gìn giữ và phát huy giá trị.
MINH SƠN
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/hanh-lang-phap-ly-bao-ve-di-san-hoi-an-3332548.html