Giờ học tại Trường THCS Võ Thị Sáu (xã Buôn Đôn, Đắk Lắk). Ảnh: NTCC
Nhận diện thuận lợi và những yêu cầu đặt ra, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục kiến nghị giải pháp nhằm triển khai mô hình này đồng bộ, hiệu quả ngay khi đi vào hoạt động.
Hoàn thiện cơ chế, nâng cao chất lượng
Ông Thái Văn Lộc - Hiệu trưởng Trường THCS Võ Thị Sáu (xã Buôn Đôn, Đắk Lắk) cho biết, Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT tạo hành lang pháp lý thống nhất cho việc tổ chức và vận hành mô hình trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền trên toàn quốc.
Thông tư quy định một cách hệ thống và đầy đủ các nội dung liên quan đến trường phổ thông nội trú, bao gồm: Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà trường; cơ cấu tổ chức bộ máy; quản lý hoạt động giáo dục; đội ngũ quản lý, giáo viên và nhân viên; học sinh; cơ sở vật chất và tài chính; cũng như quan hệ phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Thông tư cũng quy định rõ về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, cho phép thành lập thêm không quá 3 tổ giáo dục đặc thù, đồng thời yêu cầu hệ thống cơ sở vật chất được đầu tư đồng bộ, đạt chuẩn mức độ 2. Trường nội trú tổ chức dạy học 2 buổi/ngày; bên cạnh các hoạt động theo Điều lệ trường phổ thông, còn triển khai 8 hoạt động giáo dục đặc thù theo Điều 10, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh tại các xã biên giới đất liền.
Bên cạnh thuận lợi, ông Thái Văn Lộc chỉ ra một số khó khăn trong triển khai mô hình trường phổ thông nội trú. Trong đó, đội ngũ quản lý, giáo viên và nhân viên hiện chưa có nhiều kinh nghiệm tổ chức, vận hành mô hình trường nội trú, đặc biệt là công tác quản lý học sinh.
Cơ cấu nhân sự còn thiếu một số vị trí chuyên trách như giáo vụ, tư vấn học sinh…, dẫn đến triển khai một số nhiệm vụ khó đạt hiệu quả. Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục đặc thù theo quy định của Thông tư trong đội ngũ cán bộ, giáo viên cần tiếp tục được bồi dưỡng, nâng cao.
“Năm học 2026-2027, nhà trường dự kiến có 30 học sinh lớp 1, 2, 3 sinh sống tại buôn Đrang Phôk, cách trường từ 15 đến 20 km. Do lứa tuổi còn nhỏ, kỹ năng tự chăm sóc và tính tự lập chưa hoàn thiện, việc tổ chức quản lý nội trú sẽ có những thách thức nhất định; trong khi nếu tổ chức bán trú thì việc đưa đón của phụ huynh cũng không thuận lợi, khó duy trì thường xuyên trong năm học.
Công tác xã hội hóa giáo dục tại địa phương cũng gặp khó khăn do trình độ dân trí của một bộ phận phụ huynh hạn chế, khiến việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách đôi lúc chưa đạt hiệu quả như mong muốn, cần nhiều nỗ lực hơn từ nhà trường và các cấp quản lý”, ông Thái Văn Lộc chia sẻ.
Theo ông Đào Tuấn Sơn - Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTNT THPT Hòa Bình (tỉnh Phú Thọ), hệ thống trường phổ thông nội trú có nhiều nét tương đồng với hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, được tổ chức tại các vùng biên giới đất liền, nơi điều kiện kinh tế, xã hội và văn hóa còn nhiều khó khăn, thiệt thòi so với các khu vực khác.
Việc xây dựng và phát triển loại hình trường này giúp học sinh được tiếp cận giáo dục tốt, công bằng hơn so với mặt bằng chung. Đồng thời, mô hình không chỉ mang ý nghĩa chính trị, văn hóa, xã hội mà còn góp phần tăng cường tình hữu nghị, hợp tác, giao lưu giữa nhân dân các nước khu vực biên giới. Bên cạnh đó, hệ thống trường nội trú cũng giúp cán bộ, giáo viên công tác tại vùng biên yên tâm gắn bó lâu dài, khi việc học tập của con em được bảo đảm ổn định.
Ảnh minh họa INT.
Bảo đảm vận hành hiệu quả
Ông Đào Tuấn Sơn khẳng định Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT là bước tiến quan trọng trong tư duy quản lý giáo dục nội trú. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào đời sống, cần sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị ở địa phương; đồng thời, chính sách dành cho người dạy và người học cũng cần được quan tâm tương xứng với điều kiện đặc thù vùng biên, vùng sâu, xa.
Đưa đề xuất, kiến nghị để triển khai hiệu quả mô hình trường phổ thông nội trú, ông Nguyễn Văn Dương - Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT THCS Na Mèo (xã Na Mèo, Thanh Hóa) mong muốn cấp tỉnh có cơ chế và giao chỉ tiêu tuyển dụng bổ sung biên chế, hợp đồng cho các vị trí còn thiếu, bao gồm giáo viên, nhân viên nuôi dưỡng, nhân viên chăm sóc sức khỏe và nhân viên phục vụ giảng dạy.
Ông Đinh Tiến Hoàng - Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT THCS Nậm Cắn (xã Nậm Cắn, tỉnh Nghệ An) nhận định, đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên là “linh hồn” của mô hình nội trú, quyết định trực tiếp đến sự an toàn, phát triển tâm lý học sinh.
Về thuận lợi, đội ngũ giáo viên hiện nay có tinh thần nhiệt huyết, gắn bó lâu dài với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, khó khăn là giáo viên phải làm việc ngoài giờ hành chính, nhất là công tác quản lý học sinh vào buổi tối và cuối tuần, dễ dẫn đến quá tải. Bên cạnh đó, một bộ phận giáo viên còn thiếu kỹ năng, chứng chỉ về tâm lý học đường hoặc sơ cấp cứu để xử lý các tình huống phát sinh trong đời sống nội trú.
Giáo viên trường nội trú vừa đảm nhiệm giảng dạy vừa kiêm nhiệm công tác nuôi dưỡng, chăm sóc học sinh, ông Đinh Tiến Hoàng đề nghị cần có chính sách đãi ngộ phù hợp, mang tính đặc thù để bảo đảm thầy cô yên tâm công tác. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần được trang bị kỹ năng đa nhiệm như tâm lý học đường, sơ cứu cơ bản và hiểu biết văn hóa các dân tộc thiểu số để hạn chế xung đột văn hóa.
Về cơ sở vật chất và trang thiết bị, ông Hoàng cho biết nhiều trường đã được đầu tư tương đối đồng bộ với khu nội trú khép kín, tích hợp phòng học, nhà ăn, khu thể thao, thư viện. Tuy nhiên, khó khăn lớn hiện nay là nguồn kinh phí dành cho duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ vẫn còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế.
“Cơ sở vật chất và quản trị là nền tảng để học sinh yên tâm sinh hoạt và học tập. Ngoài phòng học, nhà trường cần có hệ thống nhà ăn bảo đảm an toàn thực phẩm, khu ký túc xá sạch sẽ, cùng các khu rèn luyện thể chất, giải trí. Đồng thời, việc ứng dụng phần mềm trong quản lý học sinh từ khẩu phần ăn, hồ sơ sức khỏe đến theo dõi biến động tâm lý cũng rất cần thiết, giúp nhà trường kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh”, ông Đinh Tiến Hoàng đưa kiến nghị.
Đối với nội dung và phương pháp giáo dục, ông Hoàng lưu ý chú trọng giáo dục kỹ năng sống, giúp học sinh hình thành khả năng tự lập trong sinh hoạt, quản lý bản thân và tự bảo vệ mình. Đồng thời, nhà trường cần tổ chức các hoạt động giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tạo cơ hội cho học sinh tham gia ngày hội văn hóa, sử dụng trang phục, ngôn ngữ dân tộc trong hoạt động ngoại khóa; qua đó giúp các em thêm tự hào về nguồn cội. Cùng với đó là phân hóa đối tượng học tập, có kế hoạch phụ đạo học sinh yếu và bồi dưỡng học sinh khá, giỏi ngay tại trường.
Liên quan đến chăm sóc đời sống và tâm lý, Hiệu trưởng Trường Phổ thông DTBT THCS Nậm Cắn nhấn mạnh, cần có phòng tư vấn tâm lý chuyên trách để hỗ trợ, lắng nghe học sinh trong giai đoạn xa gia đình. Đồng thời xây dựng môi trường “trường là nhà, thầy cô là cha mẹ, bạn bè là anh em”, tổ chức các nhóm học sinh nhiều độ tuổi để các anh chị hỗ trợ, hướng dẫn các em nhỏ, tạo sự gắn kết trong môi trường nội trú.
Theo Thông tư 12/2026/TT-BGDĐT, trường phổ thông nội trú là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập tại các xã/phường biên giới đất liền, nhằm thúc đẩy công bằng trong tiếp cận giáo dục đối với học sinh các xã biên giới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần củng cố quốc phòng, an ninh.
Đối tượng tuyển sinh của trường là học sinh trong độ tuổi theo quy định đối với từng cấp học; thường trú tại xã biên giới nơi trường đặt trụ sở, hoặc tại các xã biên giới liền kề, hoặc là con cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang đang công tác tại xã biên giới.
Hải Bình