Trong cuộc trò chuyện với chuyên trang Bạn trẻ, Đại đức Giác Minh Thức đã có những chia sẻ xoay quanh con đường học thuật, tu tập và hoằng pháp trong thời gian tới. Với quá trình học tập tại Đại học Delhi - một trung tâm học thuật lớn với sinh viên đến từ hàng chục quốc gia, trong suốt 2 năm, sư Giác Minh Thứcđã đúc kết được những kinh nghiệm lẫn trải nghiệm về việc học Phật học trong môi trường đa văn hóa:
- Đối với tôi, việc tu học trong một môi trường đa văn hóa như Đại học Delhi là một nhân duyên quý báu, mang lại những giá trị sở học và sở hành sâu sắc. Hành trình học Phật tại Đại học Delhi đã dạy cho tôi rằng, đạo Phật không chỉ là kiến thức, mà là hơi thở của cuộc sống đa sắc màu.
Sống trong môi trường quốc tế, tôi có cơ hội chiêm nghiệm giáo lý của Đức Thế Tôn một cách sống động qua từng phút giây. Thông qua việc giao lưu với chư Tăng đến từ Thái Lan, Myanmar... hay các học giả phương Tây, tôi nhận ra rằng: Dù bản sắc văn hóa có khác biệt để phù hợp với căn cơ của từng dân tộc, thì cốt lõi của đạo Phật vẫn luôn nhất quán trong Giới - Định - Tuệ, Tứ diệu đế và Bát chánh đạo. Những hình thức tu tập đa dạng thực chất là những phương tiện thiện xảo giúp hành giả dễ dàng tiếp cận chân lý. Bởi sau cùng, chỉ có thực hành tu tập mới là con đường duy nhất dẫn đến bình an và hạnh phúc đích thực.
* Nhiều người cho rằng học thuật Phật giáo và đời sống tu tập đôi khi có khoảng cách. Với sư, việc nghiên cứu học thuật ở bậc cao học đã hỗ trợ thế nào cho hành trình tu học và thực hành Phật pháp trong đời sống của một tu sĩ trẻ?
- Trong nhà Phật có câu: “Học nhi bất tu tắc tự đại thư nang, tu nhi bất học tắc vi mù tu” (Học mà không tu là túi đựng sách, tu mà không học dễ lạc vào u mê). Chính vì vậy, sự song hành giữa “học” và “tu” là kim chỉ nam không thể tách rời. Trong kỷ nguyên bùng nổ thông tin hiện nay, khi giáo lý Phật-đà đan xen thật giả, việc trau dồi tri thức giúp hành giả có được đôi mắt tuệ để nhận định đúng sai, gạn đục khơi trong.
Thông qua việc nghiên cứu các nguồn tài liệu chính thống, tôi không chỉ tư duy về Pháp mà còn chuyển hóa chúng vào đời sống thực tại. Nhờ đó, tâm thái an lạc của tôi vẫn luôn hiện hữu, mặc dù phải đối mặt với sự khắc nghiệt về thời tiết, thực phẩm, hay nói cách khác: văn hóa tại mảnh đất Ấn Độ xa xôi cũng trở nên thân thuộc như quê hương mình.
Đặc biệt, học thuật chính là một dạng thức của Định. Sự kiên nhẫn, tỉ mỉ khi nghiên cứu hàng giờ trong thư viện chính là lúc tôi thực hành chánh niệm và tinh tấn. Nếu tọa thiền là rèn tâm, thì nghiên cứu chính là mài sắc trí tuệ. Cả hai chính là đôi cánh đưa hành giả hướng tới đích đến cuối cùng chính là giải thoát khỏi vô minh.
* Trong quá trình học tập tại Ấn Độ - chiếc nôi của Phật giáo - điều gì khiến sư ấn tượng hoặc suy nghĩ nhiều nhất về việc bảo tồn, nghiên cứu và truyền bá Phật pháp trong bối cảnh toàn cầu hiện nay?
- Thật sự, chính nhờ học ở Ấn Độ, tôi có cơ hội cung tiễn xá-lợi Phật từ Bảo tàng Ấn Độ ra sân bay để về Việt Nam cũng như cung đón xá-lợi Phật tại sân bay quân sự Ấn Độ từ Việt Nam trở về Ấn Độ vào dịp Đại lễ Vesak đăng cai tại Việt Nam năm 2025 vừa qua. Tôi thấy rằng việc bảo tồn và truyền bá di sản Phật giáo của Ấn Độ được đặt lên hàng đầu. Cũng rất may mắn ngôi trường tôi học rất gần Bảo tàng New Delhi nên có thời gian rảnh tôi thường đến đảnh lễ xá-lợi Phật.
Bên cạnh đó, các di tích của Đức Phật như Bồ Đề Đạo Tràng - nơi Đức Phật thành đạo, Kushinagar - nơi Phật nhập Niết-bàn…, ngày nay vẫn được Ấn Độ bảo tồn rất kỹ càng. Dĩ nhiên, những thánh tích đó khiến tôi tăng trưởng niềm tin mạnh mẽ cũng như tinh thần nỗ lực tu tập tăng cao.
Các thánh tích cũng nhắc ta rằng, vạn vật đều vô thường, ngay cả sự hưng thịnh của Phật giáo trên chính quê hương mà mình sinh ra. Vì vậy, việc bảo tồn Phật pháp tốt nhất chính là bảo tồn “tâm Phật” trong mỗi cá nhân, dù chúng ta đang ở bất cứ đâu trên thế giới.
* Sau khi đạt thành quả thủ khoa thạc sĩ Phật học, sư dự định sẽ tiếp tục con đường học thuật hay tập trung nhiều hơn cho việc hoằng pháp và phụng sự?
- Thật là một nhân duyên lành và là niềm hạnh phúc lớn lao sau khi đạt được thành tích thủ khoa khoa Phật học tại Đại học Delhi, tôi lại tiếp tục đón nhận tin vui trúng tuyển vào chương trình tiến sĩ tại chính ngôi trường danh giá này. Đây chính là động lực để tôi tiếp tục bước tiếp trên con đường tầm đạo và tu học tại vùng đất Ấn Độ linh thiêng.
Về tương lai, tôi không định hình quá nhiều, bởi với tôi, được sống trọn vẹn, an lạc và cống hiến ở hiện tại đã là một món quà. Tất nhiên, sau khi kết thúc chương trình tiến sĩ tại Ấn Độ tôi sẽ trở về Việt Nam phụng sự Tam bảo, cống hiến hết mình vì lợi lạc của nhân sinh.
* Từ trải nghiệm của bản thân - một tu sĩ trẻ đi du học và tiếp xúc với môi trường học thuật quốc tế - sưcó suy nghĩ gì về việc đào tạo Tăng tài hiện nay, đặc biệt là việc kết hợp giữa tri thức hiện đại, nghiên cứu Phật học và năng lực hoằng pháp trong thời đại mới?
- Có một lời dạy cực kỳ nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Vậy nên, đối với tôi, việc đào tạo Tăng tài rất quan trọng, bởi khi Tăng tài đức đầy đủ chắc chắn Phật giáo sẽ phát triển mạnh mẽ, nhân sinh chắc chắn sẽ được hưởng ân phúc đó mà bình an.
Việc kết hợp giữa tri thức hiện đại, nghiên cứu Phật học và năng lực hoằng pháp trong thời đại mới không phải là phép cộng đơn thuần, mà là một sự hòa quyện. Từ trải nghiệm của một người đang học tập tại môi trường quốc tế, tôi nhìn nhận sự kết hợp này giống như cấu trúc của một cái cây: Nghiên cứu Phật học là rễ, tri thức hiện đại là thân và năng lực hoằng pháp là hoa trái.
Càng học lên cấp bậc cao ta càng phải tu tập, thực tập chuyển hóa lý thuyết thành ứng dụng đối với tự thân. Như vậy ta mới đạt được hạnh phúc và bình an thực sự cho chính mình, sau đó mới đem hạnh phúc và bình an thực sự cho mọi người.
* Xin chân thành kỉnh ơn sư!
Chúc Thiệu thực hiện/Báo Giác Ngộ