Hành trình hơn 20 năm giữ 'bàn tay ấm' nơi địa đầu Tổ quốc của Chấp hành viên Hồ Hữu Thành

Hành trình hơn 20 năm giữ 'bàn tay ấm' nơi địa đầu Tổ quốc của Chấp hành viên Hồ Hữu Thành
5 giờ trướcBài gốc
Tuổi trẻ sống trên Cao nguyên đá
Ngồi tỉ tê bên bàn trà với tôi, anh Hồ Hữu Thành (SN 1974) - Trưởng Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6, tỉnh Tuyên Quang đến giờ vẫn không tin nổi tuổi trẻ của anh lại gắn bó ở nơi bốn bề đều là màu đá xám, quanh năm thiếu nước, cuộc sống của cán bộ, bà con chật vật đủ bề.
Anh Thành kể, năm 2002 sau 5 năm đèn sách tại Đại học Luật Hà Nội, anh được tuyển dụng vào ngành Tư pháp và trực tiếp được giao nhiệm vụ Thi hành án dân sự tại huyện Mèo Vạc (cũ), nay là xã Mèo Vạc (tỉnh Tuyên Quang). Vốn sống quen ở huyện vùng thấp Sơn Dương (cũ), sau đó về Hà Nội học, lần đầu lên chốn Cao nguyên đá anh mới cảm nhận cuộc sống của cán bộ, bà con ở vùng cao khó khăn hơn cả trong đầu anh từng hình dung.
“Hồi ấy đường lên Mèo Vạc chỉ rải đá cấp phối, rộng 4 mét, có đoạn 1 bên là núi đá dựng đứng, bên kia là vực thẳm. Đi không cẩn thận chỉ lo rơi xuống vực, đến nơi công tác vẫn còn thấy run chân tay, nhưng đó cũng chỉ là ấn tượng đầu tiên thôi, sau này sống ở đó mới thấm thía nỗi khổ của bà con, cán bộ công tác ở vùng cao”, anh Thành chia sẻ.
Anh Thành bảo, may mắn ở đơn vị công tác, anh được phân cho nghỉ tại khu tập thể cán bộ, ngặt nỗi ở vùng Cao nguyên đá này không có nước, từ nước tắm, giặt, nấu ăn đều đợi nước…“trời". Thời điểm mưa nhiều vẫn còn cố gắng tằn tiện nước đủ duy trì sinh hoạt, nhưng mùa khô thì phải 3-4 hôm mới dám tắm một lần. Đến nỗi nước rửa rau còn phải tận dụng lại để rửa tay, chân.
Theo anh Thành, khó khăn là một nhẽ, lên đó lúc đầu buồn nhất vẫn là nhớ nhà, khi đó điện thoại di động không có, mọi liên lạc với gia đình đều gửi gắm qua những lá thư tay gửi qua bưu điện.
“Có lúc nhớ nhà quá vì công việc nhiều, mấy tháng mới thu xếp được về một lần, nhưng cứ hễ hôm trước có trận mưa đường đi lại sạt lở, có khi đến dọc đường lại phải quay lại, không về thăm bố mẹ được”, anh Thành kể.
Theo anh Thành, do mải công việc nên chuyện lập gia đình với anh cũng khá muộn. Những lá thư tay bố mẹ anh gửi lên hầu như lần nào cũng có câu “con có người yêu trên ấy chưa, sắp lấy vợ chưa hoặc nếu chưa có bố mẹ hỏi cô hàng xóm hộ”.
Nhưng rồi như một định mệnh, anh Thành bén duyên với cô giáo Nguyễn Thị Hằng - người Tày quê xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên (cũ), nay là xã Vị Xuyên trong một lần đi chợ phiên Mèo Vạc.
“Lúc ấy mình 30 tuổi, bạn bè ở quê con cái đề huề cả rồi, hôm đi chợ phiên Chủ Nhật tự dưng có cảm giác ấn tượng với cô gái này, lân la hỏi chuyện mới biết cô là cô giáo cắm bản. Cứ dần dà đi lại tìm hiểu, cùng cảnh khó khăn thiếu thốn, lại xa quê nên nảy sinh tình cảm rồi đi đến kết hôn”, anh Thành chia sẻ.
Những bản án... “dở khóc, dở cười” và lòng trắc ẩn của người thực thi
Công tác ở vùng Cao nguyên đá thời còn hoang sơ, ngoài cán bộ từ xuôi lên công tác không một bóng du khách. Khác với hình ảnh nhộn nhịp cả khách trong và ngoài nước như ngày nay, anh Hồ Hữu Thành hiểu rõ những gian nan của người dân, bởi phần lớn tuổi trẻ của anh gắn với các bản làng heo hút, ăn chung, sống cùng đồng bào người Mông khốn khó.
Những năm công tác tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc, anh không chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn mà còn chứng kiến biết bao cảnh đời nghèo khó.
Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 chủ trì phối hợp cưỡng chế bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá ở xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang (Ảnh chụp tháng 2/2025).
Đáng nhớ như năm 2006, trong một lần xuống xã Lũng Pù (cũ) giải quyết thi hành án, anh cùng trưởng thôn vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông vừa chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương. Đến khi anh chứng kiến căn nhà lợp mái tranh, vách nứa xiêu vẹo, tài sản gần như không có gì ngoài vài vật dụng cũ kỹ, lòng anh như quặn thắt, nhưng việc công anh vẫn phải làm.
“Mình vẫn nhớ người đàn ông ấy gầy gò, lúc đó phải thi hành khoản án phí hình sự sơ thẩm 50 nghìn đồng liên quan đến vụ trộm cắp tài sản. Đúng là số tiền không lớn nhưng với gia đình ấy lại là cả một gánh nặng vì quan sát thấy họ không có trâu bò, không có gia súc, gia cầm đáng giá.
Nhìn đứa con nhỏ mới vài tháng tuổi nằm trong tay mẹ, tôi thấy nặng trĩu trong lòng. Hôm ấy, người đàn ông này phải chạy khắp nơi vay 50 nghìn nộp án phí, thu án phí xong về sau trước khi ra về tôi lặng lẽ mừng tuổi cho đứa trẻ 100 nghìn đồng. Tôi chỉ nghĩ công việc của mình đã hoàn thành, nhưng họ khó khăn hơn mình”, anh Thành nhớ lại.
Cũng là một trường hợp khác mà anh vẫn nhớ như in, đó là năm 2007, anh Thành cùng một cán bộ xã ở Mèo Vạc xuống vận động một trường hợp là đồng bào người Mông thi hành án phí hình sự sau khi đi cải tạo về, mức phí là 50 nghìn đồng.
“Thời điểm ấy, 50 nghìn có thể mua được khoảng 3kg gà, gia đình đó không có tiền nộp án phí, tôi đợi hàng giờ ở nhà chờ anh ấy đi hỏi vay khắp làng, cũng có thể người ta kỳ thị anh ấy đi cải tạo về nên không cho anh này vay. Nghĩ không còn cách nào khác, thấy gia đình họ có con gà đang ăn hạt ngô gần đó, tôi thuyết phục anh cán bộ xã đi cùng mua giúp gia đình con gà để họ có tiền nộp án phí, may quá anh ấy bảo tối nhà có khách nên mua giúp luôn, thế là mình cũng hoàn thành nhiệm vụ”, nói xong anh Thành cười xòa.
Rồi đến năm 2018, khi đó nhận công tác tại huyện Xín Mần (cũ) với vai trò là Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện, anh gặp một vụ việc đặc biệt khác ở xã Bản Ríu. Trường hợp này là người dân họ thua kiện trong vụ tranh chấp đất đai và phải thi hành khoản án phí hơn 900 nghìn đồng. Gia đình quá khó khăn, không xoay đâu ra tiền.
Sau nhiều lần vận động, gia đình nói tài sản đáng giá nhất trong nhà chỉ còn con chó nặng khoảng 12kg. Cuối cùng, anh lại quay sang thuyết phục vị cán bộ xã đi cùng mua giúp người dân con chó ấy để về nuôi, đồng thời giúp họ có tiền thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Anh Thành chia sẻ: “Nói thật với các anh, người dân vùng cao nhiều khi không phải họ cố tình chây ì, mà thực sự là không có gì để nộp, nên làm nghề của chúng mình cũng phải linh hoạt”.
Anh Thành nhớ mãi trường hợp của Phượng Tà C. (dân tộc Dao đỏ), ở xã Quảng Nguyên. C. là một thanh niên trẻ sinh năm 2002, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, C. không may vướng vào vòng lao lý.
Chuyện là năm 2024, bố của C. đi vào rừng hái thảo quả thì bắt được hai con rùa vàng. Nghĩ rằng có thể bán lấy tiền, gia đình đưa lên mạng xã hội rao bán rồi mang xuống Hà Nội giao dịch. Sau đó, cơ quan công an phát hiện, xử lý và xét xử vụ án hình sự tại quận Hoàn Kiếm.
Khi bản án được thi hành, C. về địa phương, gia đình phải nộp 3 triệu đồng truy thu sung công quỹ Nhà nước. Với người dân miền núi Quảng Nguyên như C. khi đó là khoản tiền rất lớn.
“Gia đình C. phải đi vay mượn khắp nơi mới có tiền thi hành án. Thấy gia đình khó khăn, có con nhỏ, mình và mấy anh em ở xã cùng đi vận động lại góp nhau khéo léo mừng tuổi cho cháu”, anh Thành kể.
Để pháp luật trở nên gần gũi với Nhân dân
Hơn 20 năm gắn bó với nghề Thi hành án dân sự, đến nay anh Thành đã chuyển đến 3 nơi công tác đều ở vị trí lãnh đạo. Từ Mèo Vạc xa xôi, đến Xín Mần và nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6 trụ sở tại xã Hoàng Su Phì.
Tất cả những nơi anh từng công tác đều là vùng đất khó khăn nhất của tỉnh Hà Giang (cũ). Sau đợt sắp xếp tổ chức bộ máy từ ngày 1/7/2025, 2 đơn vị thi hành án dân sự là Hoàng Su Phì và Xín Mần được hợp nhất thành Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6. Trên cương vị mới là Trưởng Phòng, vai trò và trách nhiệm của anh Hồ Hữu Thành càng nặng nề hơn khi địa bàn quản lý trải rộng, nhiều xã vùng cao phải đi vài ngày mới về đến cơ quan.
“Ngày trước chỉ thực hiện thi hành án quanh một huyện đã xa rồi, giờ còn xa hơn, vì đường đi lại ở vùng cao biên giới không như miền xuôi, toàn đồi núi chập trùng, đường đi lại bị chia cắt đặc biệt vào mùa mưa. Có vụ việc đi hàng trăm kilomet mới đến”, anh Thành cho hay.
Anh Thành cho biết, hiện nay điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực nơi anh công tác thực tế vẫn chưa thể đáp ứng hết yêu cầu thực tiễn. Một phần do cắt giảm nhân sự, trụ sở anh em đang ở vẫn chưa được đầu tư lại nên anh em ở xa đến công tác còn gặp nhiều khó khăn.
Nói về chuyện nghề, anh Thành chia sẻ: “Thực ra nghề của chúng mình không thể ngồi một chỗ được, mỗi Chấp hành viên muốn hoàn thành tốt công việc đều phải chịu khó đi vào từng ngõ ngách, bản làng, hiểu được tập tục, đời sống của bà con các dân tộc sinh sống trên địa bàn mới dễ hoàn thành được công việc của mình. Rất nhiều trường hợp người mới vào ngành mình công tác ở vùng cao cảm thấy khó khăn, có người muốn bỏ nghề bởi vì chưa hiểu được nếp nghĩ, từng khó khăn của bà con”.
Theo anh Thành, ở vùng cao nghèo khó này nghề thi hành án không phải cứ thực thi đúng luật, cứ cưỡng chế là được. Mà còn vào sống cùng bà con, kiên trì giải thích để bà con hiểu luật, phải hiểu rằng phía sau mỗi vụ việc thi hành án không chỉ là những con số hay bản án khô cứng, mà còn là cuộc sống chật vật của biết bao gia đình nghèo.
Do đó, anh Thành luôn ưu tiên sự dung hòa giữa tính nghiêm minh của pháp luật và sự bao dung của tình người. Và có lẽ, chính những con người lặng lẽ như anh đã làm cho pháp luật trở nên gần dân hơn, nhân văn hơn giữa miền biên viễn xa xôi của Tổ quốc.
Phàn Giào Họ
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/hanh-trinh-hon-20-nam-giu-ban-tay-am-noi-dia-dau-to-quoc-cua-chap-hanh-vien-ho-huu-thanh.html