Các đại biểu dự hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. (Ảnh: ĐĂNG ANH)
Tư tưởng vì dân luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao. Tư tưởng ấy khởi nguồn, xuất phát ngay từ khi nước nhà mới thành lập, bắt đầu hành trình bền bỉ xây dựng một nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân. Ngay tại Điều 1 Hiến pháp năm 1946 đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
81 năm kể từ khi thành lập nước, 80 năm kể từ khi ban hành Hiến pháp đầu tiên, tư tưởng về một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta kiên định kế thừa, liên tục phát triển, vận dụng sáng tạo, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thực tiễn, phù hợp với bối cảnh trong nước và tình hình thế giới. Điều đó giúp đất nước ta đạt những thành tựu vĩ đại; cơ đồ, vị thế đất nước ngày càng được khẳng định vững chắc trên trường quốc tế; đời sống người dân không ngừng được cải thiện, nâng cao.
Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được đề cao, bảo đảm. Mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều phải hợp lòng dân, vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Điều ấy không phải là khẩu hiệu, lời nói mà được biểu hiện sinh động bằng những con số thuyết phục: Tính riêng trong giai đoạn 2021-2025, tăng trưởng GDP bình quân nước ta đạt khoảng 6,3%/năm, cao hơn nhiệm kỳ trước. Sau năm 2021 chịu tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19 (chỉ đạt mức tăng trưởng 2,55%), kinh tế phục hồi mạnh mẽ trong giai đoạn 2022-2025, đạt bình quân 7,2%/năm.
Năm 2025, tăng trưởng GDP đạt 8,02%, đưa Việt Nam xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Năm 2025, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu của Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hạ tầng số phủ rộng tới 100% số xã, phường; tốc độ internet di động thuộc nhóm 20 nước hàng đầu thế giới, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số và xã hội số...
Tuy nhiên, trước những cám dỗ, cạm bẫy, một số đảng viên và người có chức vụ đã quên mất mình là người cộng sản, suy thoái, biến chất, tự cho phép mình rũ áo “đày tớ” mà tham nhũng, xa hoa, rất đáng lên án. Những hành vi, việc làm sai trái, phạm pháp của không ít cán bộ, quan chức, người đứng đầu đã làm phai nhạt niềm tin của nhân dân vào Đảng. Đó cũng là lý do Đảng ta luôn tự soi, tự sửa, luôn gắn chặt công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Đại hội VI (năm 1986), Đảng ta đúc kết bài học kinh nghiệm hết sức quan trọng: Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Trong Báo cáo trình Đại hội Đảng lần thứ XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh “Dân là gốc” không chỉ như một tư tưởng xuyên suốt, mà còn đặt trực tiếp trong nhóm các bài học lớn có ý nghĩa phương pháp luận đối với toàn bộ quá trình lãnh đạo, cầm quyền. “Dân là gốc” không phải là khẩu hiệu, mà là nguyên tắc chỉ đạo hành động. Ở nguyên tắc ấy, nhân dân là chủ thể, được đặt ở vị trí trung tâm, được tin tưởng, tôn trọng, được phát huy quyền làm chủ của mình, với đầy đủ ý nghĩa của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.
Tư tưởng xuyên suốt lấy “Dân là gốc” ấy tại Đại hội XIV - đại hội mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, như một bước phát triển đột phá về tư duy, lý luận so với Đại hội VI. Sau 40 năm, từ “dân làm gốc” đến “dân là gốc” không chỉ là sự đổi thay câu chữ, mà là cả một sự đổi thay tư duy hết sức mạnh mẽ. 40 năm trước, tư tưởng ấy đã mở ra thời kỳ phát triển rực rỡ cho dân tộc Việt Nam, đưa nước ta đến chỗ chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế quốc tế như hiện nay. 40 năm sau, tư tưởng “Dân là gốc” được kỳ vọng sẽ tạo ra những thành tựu còn vẻ vang hơn nữa trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, dẫu thế giới có biến động khó lường đến đâu. Sự kỳ vọng ấy là có cơ sở, bởi nền móng đã được tạo dựng, ấy là Đảng ta đang không ngừng hoàn thiện chính sách bằng việc tháo gỡ “điểm nghẽn của điểm nghẽn” là thể chế.
Có thể khẳng định rằng, việc tiếp tục cải cách, hoàn thiện thể chế, trong đó có việc ban hành 7 nghị quyết chiến lược thật sự là căn cứ, cơ sở, gây dựng niềm tin để tạo ra những xung lực mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Tuy nhiên, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược, làm cho đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, việc mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, định vị lại, phát triển tư duy phụng sự nhân dân cần được coi trọng, cần biến thành những việc làm, hành động cụ thể. Mỗi “đày tớ” cần phải quán triệt tinh thần chỉ đạo của Đảng là lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ.
Ngay sau Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm có bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” được đăng tải, phát sóng rộng khắp trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Người đứng đầu Đảng ta khẳng định: “Mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” mà Đảng đề ra không chỉ là khát vọng mà còn là lời hứa danh dự trước nhân dân.
Vì thế, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt những người “đứng mũi chịu sào”, phải tự nhắc mình phải vươn lên, phải vượt lên chính mình. Chúng ta không được phép trì hoãn đổi mới, không được phép chậm trễ trong hành động, càng không được phép tự thỏa mãn hay ngủ quên trên vòng nguyệt quế. Bài học của những nhiệm kỳ trước cho thấy: Ở đâu có quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, sâu sát, ở đó công việc chuyển biến tích cực; ngược lại, nếu lơi lỏng, chủ quan, thiếu quyết liệt, thì chủ trương dù đúng mấy cũng khó thành công”.
Ngày 7/2/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, kịp thời, khoa học này mở đầu cho việc nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết. Sự “khởi động” hành trình đưa nghị quyết vào cuộc sống, bắt đầu hành trình “nói đi đôi với làm”, “nói ít làm nhiều”, nói và làm đều rõ người, rõ việc, rõ mục tiêu, giải pháp, thời gian, trách nhiệm cụ thể chứ không thể chung chung, định tính.
Và hơn lúc nào hết, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu đi đầu, hết lòng hết sức phụng sự để thật sự là “đày tớ thật trung thành của nhân dân”, biến quyết sách thành hiện thực, hoàn thành tốt các nhiệm vụ đề ra, thể hiện sinh động tư tưởng “Dân là gốc” được quán triệt, đúng như tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng: nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc phát triển, mọi chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; đề cao việc tôn trọng, lắng nghe và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
TIẾN SĨ NGUYỄN TRI THỨC