Chính ở cấp xã/phường, chất lượng giáo dục được quyết định bởi phân bổ nguồn lực ra sao, kỷ cương dạy học thế nào, ai chịu trách nhiệm khi kết quả không đạt, và người dân được quyền biết, quyền giám sát, và quyền yêu cầu giải trình đến đâu.
Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, biên chế quản lý nhà nước giảm, chúng ta không nên giữ nguyên mô hình quản trị nhà trường theo cơ chế truyền thống vốn nặng duyệt việc, nặng sự vụ, dựa nhiều vào “cấp phát”, và đã bộc lộ nhiều hạn chế. Nếu không có chuyển biến mạnh về tư duy và cách làm, bộ máy càng tinh gọn thì nhà trường càng bị kéo vào vòng xoáy thủ tục giấy tờ, còn chất lượng thật thì khó cải thiện.
Quản lý giáo dục ở cơ sở đang đứng trước một lựa chọn: hoặc tiếp tục cách làm cũ, duyệt từng việc, chạy theo sự vụ hoặc chuyển sang một mô hình hiện đại hơn: quản lý bằng chuẩn mực, bằng dữ liệu và bằng trách nhiệm giải trình. Cách cũ không hẳn sai, nhưng không còn phù hợp khi hệ thống lớn lên, yêu cầu tăng lên, trong khi bộ máy thì tinh gọn. Nếu vẫn giữ tư duy “trường làm gì cũng phải xin”, “cái gì cũng chờ duyệt”, ta đang quản lý giáo dục hay đang quản lý giấy tờ?
Hiện đại hóa quản trị không phải là “buông”, càng không phải “khoán trắng”. Cốt lõi là đổi cách vận hành: từ quản lý vi mô sang kiểm soát chất lượng; từ “đúng quy trình là xong” sang “đúng chuẩn và có kết quả”; từ báo cáo cảm tính sang dữ liệu có thể kiểm chứng.
Trong cơ chế mới, hiệu trưởng chịu trách nhiệm chính về kết quả giáo dục của nhà trường; cơ quan quản lý chuyển vai sang đặt chuẩn, tạo điều kiện, giám sát bằng dữ liệu và xử lý theo rủi ro.
TS Hoàng Ngọc Vinh - Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp, Bộ GD&ĐT.
Trên thế giới, các mô hình tăng quyền chủ động cho nhà trường (mô hình school-based management) đều dựa trên một nguyên lý đơn giản: ai gần học sinh nhất thì phải có quyền quyết định những việc thuộc tổ chức dạy học và vận hành nhà trường, nhưng quyền đi kèm trách nhiệm giải trình. Điểm đáng học không phải là khẩu hiệu “tự chủ”, mà là cách ràng buộc bằng chuẩn nghề nghiệp, minh bạch tài chính và giám sát xã hội.
Tuy vậy, tăng quyền nếu làm vội có thể tạo rủi ro. Nơi nào hiệu trưởng yếu năng lực quản trị, thiếu kỹ năng tổ chức - tài chính - nhân sự, thì trao quyền dễ phát sinh sai sót. Nơi nào dữ liệu yếu, công khai hình thức, thì “quản trị bằng dữ liệu” chỉ là trang trí. Nơi nào giám sát xã hội mờ nhạt, tự chủ rất dễ bị hiểu sai thành đặc quyền. Vì thế, phải làm theo mức độ sẵn sàng, theo điều kiện địa phương, tuyệt đối tránh “đổ khuôn” đồng loạt.
Trong bối cảnh quản trị mới, không còn Phòng Giáo dục và Đào tạo cấp quận/huyện. Quản lý ở cơ sở gắn trực tiếp với UBND xã/phường; Phòng Văn hóa – Xã hội cấp xã/phường là đầu mối tham mưu, phối hợp triển khai nhiệm vụ giáo dục trên địa bàn. Điều đó càng đòi hỏi cách quản lý gọn, rõ, tránh sa vào duyệt sự vụ để không quá tải. Cách hợp lý là nắm bằng dữ liệu và buộc giải trình, thay vì “ôm việc”.
Nếu không coi Hội đồng trường là trụ cột giám sát, cần một cơ chế thay thế đủ lực: cộng đồng xã/phường cùng chính quyền giám sát nhà trường bằng dữ liệu và bằng giải trình công khai của hiệu trưởng. “Giám sát cộng đồng” không phải can thiệp chuyên môn từng tiết dạy, càng không phải tranh luận cảm tính. Giám sát ở đây là giám sát những thứ người dân có quyền biết: minh bạch thu - chi, an toàn trường học, kỷ cương, tiến bộ học sinh, chương trình liên kết, ngoại khóa và việc sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu.
Để cơ chế này hiện thực hóa, ở xã/phường có thể hình thành một nhóm giám sát cộng đồng gồm đại diện phụ huynh, đại diện các tổ chức xã hội, đoàn thể tại địa bàn, đại diện chính quyền, và nếu có điều kiện thì mời thêm đại diện doanh nghiệp địa phương.
Nhóm này không điều hành trường, không “cầm tay chỉ việc” hiệu trưởng. Họ làm ba việc: xem dữ liệu, hỏi đúng câu hỏi, và yêu cầu giải trình. Mỗi học kỳ hoặc mỗi năm, hiệu trưởng công khai một bộ chỉ số cốt lõi: chuyên cần, an toàn trường học, kết quả học tập theo hướng đo tiến bộ (không chỉ điểm tuyệt đối), tình trạng giáo viên, hỗ trợ học sinh yếu thế, và thu - chi theo mẫu thống nhất. Quan trọng nhất: dữ liệu phải dẫn tới trách nhiệm - vấn đề ở đâu, giải pháp nào, thời hạn nào, ai chịu trách nhiệm.
Trong mô hình mới, Sở Giáo dục và Đào tạo làm đúng vai “kiến tạo chất lượng”: ban hành chuẩn tối thiểu và chuẩn dữ liệu; xây công cụ theo dõi chất lượng dựa trên dữ liệu; bồi dưỡng năng lực quản trị cho hiệu trưởng; kiểm tra theo rủi ro (nơi dữ liệu bất thường, khiếu nại tăng, an toàn học đường có vấn đề thì tập trung); tham gia có mức độ vào tuyển dụng giáo viên, đồng thời tham mưu cơ chế phân bổ nguồn lực để không làm giãn chênh lệch giữa nơi thuận lợi và nơi khó khăn.
UBND xã/phường (thông qua Phòng Văn hóa - Xã hội) giữ vai “tổ chức thực thi và bảo đảm giải trình tại chỗ”: kết nối nhà trường với cộng đồng, duy trì kênh công khai dữ liệu, tiếp nhận phản hồi và phối hợp xử lý theo thẩm quyền.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nơi làm tốt đều có điểm chung: phân quyền có điều kiện, minh bạch dữ liệu, giải trình rõ ràng, và đầu tư năng lực lãnh đạo nhà trường. Việt Nam không cần bê nguyên xi mô hình của ai. Ta chỉ cần chọn phần phù hợp: nơi có hiệu trưởng mạnh và hạ tầng dữ liệu tốt thì đi trước; nơi khó khăn làm từ nền tảng: chuẩn hóa dữ liệu tối thiểu, tăng hỗ trợ, nâng năng lực quản trị – rồi mới mở rộng không gian chủ động.
Hiện đại hóa quản trị cơ sở giáo dục cấp xã/phường đổi cách nhà nước hiện diện trong trường học: ít can thiệp vụn vặt hơn, nhưng rõ chuẩn hơn; ít mệnh lệnh hành chính hơn, nhưng dữ liệu thật hơn; và quan trọng nhất, trách nhiệm rõ ràng hơn. Khi hiệu trưởng chịu trách nhiệm kết quả và cộng đồng xã/phường giám sát bằng dữ liệu, quản trị giáo dục mới thoát vòng xoáy sự vụ để bước sang quản lý chất lượng - điều người dân kỳ vọng và hệ thống buộc phải hướng tới.
Ưu điểm và hạn chế của quản lý dựa vào nhà trường (School - based management)
Về mặt ưu điểm, mô hình này giúp trao quyền sát "điểm chạm" học sinh, từ đó đưa ra các quyết định nhanh chóng và phù hợp với nhu cầu thực tế của từng trường. Đồng thời, cơ chế này làm tăng trách nhiệm của hiệu trưởng khi gắn liền quyền hạn với kết quả và nghĩa vụ giải trình. Việc phân bổ nguồn lực cũng trở nên linh hoạt hơn, ưu tiên đúng việc, đúng nhóm học sinh. Ngoài ra, mô hình còn thúc đẩy sự minh bạch và tăng cường sự tham gia giám sát của phụ huynh cũng như cộng đồng thông qua dữ liệu giám sát cụ thể.
Tuy nhiên, mô hình cũng đi kèm những hạn chế và rủi ro nhất định. Sự chênh lệch về năng lực của hiệu trưởng và điều kiện vùng miền có thể làm giãn cách sự bất bình đẳng trong giáo dục. Bên cạnh đó là nguy cơ chạy theo "dữ liệu đẹp" hay bệnh thành tích nếu việc đo lường bị sai lệch hoặc chỉ công khai mang tính hình thức. Việc thiếu minh bạch và kiểm soát cũng dễ dẫn đến rủi ro về liêm chính tài chính hay mua sắm. Cuối cùng, cơ chế quản lý dựa vào nhà trường rất dễ bị hiểu sai thành "buông quản" nếu thiếu đi các bộ chuẩn tối thiểu và cơ chế giám sát hiệu quả.
Lê Vượng (Ghi)