Hiện trạng trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo khu vực Hà Nam (cũ)

Hiện trạng trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo khu vực Hà Nam (cũ)
14 giờ trướcBài gốc
Dây chuyền sản xuất dây cáp điện, dây đồng của Công ty TNHH Đồng Kỹ thuật Korea.
Hà Nam (cũ) là địa phương thuộc tỉnh Ninh Bình (hiện nay) vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, lại nằm trên huyết mạch giao thông Bắc - Nam với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy hết sức thuận lợi. Từ trung tâm thành phố Hà Nội đi Hà Nam theo Quốc lộ 1A hoặc đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình chỉ mất khoảng 1 tiếng di chuyển. Đây là điều kiện thuận lợi để Hà Nam giao lưu kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật với các tỉnh, thành trong vùng và cả nước; phát triển các dịch vụ công nghiệp - đô thị, khu công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, logistics và thương mại; được đánh giá cao về môi trường đầu tư kinh doanh với cơ sở hạ tầng giao thông kết nối tốt với các khu vực lân cận, tiến độ đầu tư phát triển hạ tầng logistic, các công trình, dự án giao thông và cảng thủy nội địa được đẩy nhanh. Giai đoạn 2020-2024, việc đánh giá hiện trạng trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của doanh nghiệp không chỉ mang ý nghĩa nghiên cứu khoa học, mà còn là cơ sở thực tiễn quan trọng cho công tác hoạch định và điều chỉnh chính sách phát triển công nghiệp ở cấp địa phương. Đối với tỉnh Hà Nam (cũ) nay thuộc không gian phát triển chung của tỉnh Ninh Bình ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là trụ cột tăng trưởng, đóng góp lớn vào GRDP, thu ngân sách và giải quyết việc làm. Tuy nhiên, mức độ hiện đại hóa, khả năng hấp thụ và đổi mới công nghệ của doanh nghiệp vẫn còn là câu hỏi lớn đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.
Số doanh nghiệp tại Hà Nam có chiều hướng tăng.
Nguồn: Niên giám thống kê 2024 tỉnh Hà Nam
Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 phân theo ngành kinh tế
(ĐVT: tỷ đồng)
Nguồn: Niên giám thống kê 2024 tỉnh Hà Nam
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng sản phẩm xã hội, năm 2024 chiếm khoảng 54,7% trong tổng sản phẩm xã hội và chiếm 94,5% toàn ngành công nghiệp theo giá so sánh. Số lượng doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (DNCNCBCT) hiện chiếm gần 30% tổng số DN trên địa bàn, năm 2024 là 28,9%. Trong khu vực DN CN CBCT chiếm nhiều nhất là DN sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 14,8%; sản xuất trang phục 12,1%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 10,7%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 8,9%; dệt 8,5%....
Lao động khu vực DN và lao động DN ngành CN CBCT
(Nguồn: Niên giám thống kê 2024 tỉnh Hà Nam)
Dây chuyền sản xuất dây cáp điện, dây đồng của Công ty TNHH Đồng Kỹ thuật Korea.
Lao động của DNCNCBCT cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động khu vực doanh nghiệp, năm 2024 là 77%... Có thể thấy, doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo quyết định chủ yếu đến tốc độ tăng trưởng toàn ngành công nghiệp, đóng góp cực kỳ quan trọng và là động lực tăng trưởng chính, thúc đẩy GRDP, tạo việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương, phát triển công nghệ và cải thiện chất lượng cuộc sống thông qua cung cấp sản phẩm thiết yếu, đồng thời là xương sống trong cơ cấu nền kinh tế hiện đại hóa.
Thực trạng trình độ và năng lực công nghệ của doanh nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy, trình độ và năng lực công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo trên địa bàn tỉnh Hà Nam (cũ) nhìn chung ở mức trung bình thấp. Điểm số bình quân của các nhóm tiêu chí chỉ đạt khoảng 40 - 50% mức tối đa, phản ánh mặt bằng công nghệ chưa cao và còn nhiều dư địa cải thiện.
Nhóm hiện trạng thiết bị, công nghệ (Nhóm T) đạt điểm cao nhất trong các nhóm, song chủ yếu tập trung ở mức trung bình. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị trong những năm gần đây, song phần lớn là đầu tư thay thế hoặc nâng cấp cục bộ; mức độ tự động hóa và tích hợp sản xuất còn hạn chế. Đáng chú ý, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chủ yếu sử dụng công nghệ ở mức trung bình, chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa công nghệ rõ nét đối với khu vực doanh nghiệp trong nước.
Nhóm hiệu quả khai thác công nghệ (Nhóm E) là điểm yếu nổi bật. Năng suất lao động, hiệu suất thiết bị và khả năng khai thác tối đa công suất dây chuyền còn thấp so với tiềm năng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật, năng lực bảo trì bảo dưỡng và đặc biệt là khả năng tiếp nhận, hấp thụ và làm chủ công nghệ. Nhiều doanh nghiệp mới dừng ở mức vận hành theo hướng dẫn, chưa đủ năng lực phân tích, cải tiến và tối ưu hóa công nghệ.
Ở nhóm năng lực tổ chức - quản lý (Nhóm O), phần lớn doanh nghiệp chưa xây dựng được hệ thống quản lý công nghệ bài bản; việc áp dụng các công cụ quản lý tiên tiến, tiêu chuẩn chất lượng và quản lý hiệu suất thiết bị còn hạn chế. Đầu tư cho đào tạo, huấn luyện nhân lực chưa tương xứng với yêu cầu đổi mới công nghệ.
Hai nhóm yếu nhất là nhóm năng lực nghiên cứu, phát triển (Nhóm R) và Nhóm năng lực đổi mới sáng tạo (Nhóm I). Đa số doanh nghiệp không có bộ phận R&D chuyên trách; chi cho R&D thường dưới 0,5% doanh thu; rất ít doanh nghiệp tạo ra sản phẩm hoặc công nghệ mới mang tính đột phá. Hoạt động đổi mới hiện nay chủ yếu dừng ở cải tiến nhỏ, mang tính tình thế hơn là chiến lược dài hạn.
Trong bối cảnh tỉnh Ninh Bình đang triển khai các định hướng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, địa phương cần chuyển trọng tâm chính sách từ hỗ trợ đầu tư thiết bị đơn thuần sang nâng cao năng lực khai thác và hấp thụ công nghệ, thông qua đào tạo nhân lực kỹ thuật, hỗ trợ dịch vụ tư vấn công nghệ và quản lý công nghệ cho doanh nghiệp. Từng bước hình thành hệ sinh thái hỗ trợ đổi mới công nghệ ở cấp tỉnh, thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học công nghệ, đặc biệt trong các ngành chế biến, chế tạo chủ lực. Đánh giá trình độ và năng lực công nghệ sản xuất cần được sử dụng như công cụ quản lý nhà nước thường xuyên, làm căn cứ thiết kế các chương trình, đề án hỗ trợ doanh nghiệp khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
ThS. Nguyễn Đức Trường, TS.Trần T.Thanh Xuân, TS. Phạm Hồng Quách, CN. Kim T.Hồng Cúc, CN. Hoàng Văn Cường
Nguồn Ninh Bình : https://baoninhbinh.org.vn/hien-trang-trinh-do-va-nang-luc-cong-nghe-cua-doanh-nghiep-nganh-che-bien-che-t-260109111330023.html