Thiệt hại kép từ bê bối của nghệ sĩ
Khi những thông tin liên quan đến việc sử dụng ma túy của nữ chính Miu Lê bùng nổ, phim điện ảnh “Đại tiệc Trăng Máu 8” đang rơi vào tình thế khó khăn. Sau gần một tháng công chiếu, tác phẩm mới chỉ thu về 33 tỷ đồng, thấp hơn khá xa so với kỳ vọng ban đầu. Một lần nữa, giới chuyên môn đang nhắc tới bài học không mới của ngành công nghiệp giải trí, nơi bê bối của nghệ sĩ có thể trở thành cú đánh trực diện, không chỉ vào sự nghiệp cá nhân mà còn kéo theo hệ lụy đối với một dự án nghệ thuật.
Miu Lê trong phim “Đại tiệc Trăng Máu 8”.
Trao đổi với An ninh thế giới, nhà phê bình điện ảnh Nguyễn Phong Việt nhấn mạnh: “Việc một nghệ sĩ trong đoàn phim vướng vòng lao lý luôn là vấn đề nghiêm trọng. Bởi điện ảnh không chỉ là câu chuyện doanh thu mà còn là kết quả của một quá trình lao động tập thể, nơi hàng trăm con người cùng đầu tư thời gian, công sức và nguồn lực để hoàn thành một tác phẩm”.
Theo đó, tác động từ scandal không dừng lại ở những con số phòng vé sụt giảm hay lịch chiếu bị thu hẹp, bởi doanh thu từ rạp chỉ là phần nổi của tảng băng. Nhiều bộ phim còn đặt kỳ vọng vào các hợp đồng phát hành trên nền tảng trực tuyến, bản quyền quốc tế hay nguồn thu hậu phát hành nhằm bù đắp chi phí sản xuất ngày càng lớn.
Tuy nhiên, khi diễn viên giữ vai trò trung tâm vướng mắc về pháp lý, các đối tác thường có xu hướng thận trọng hơn, thậm chí lựa chọn giữ khoảng cách để tránh bị cuốn vào những tranh cãi nằm ngoài phạm vi chuyên môn. Hệ quả là giá trị thương mại của bộ phim bị bào mòn đáng kể, nhiều thỏa thuận đứng trước nguy cơ đổ vỡ hoặc bị điều chỉnh xuống mức thấp hơn kỳ vọng.
Không chỉ tạo ra những tổn thất về kinh tế, sự cố từ nghệ sĩ còn có thể làm suy giảm đáng kể giá trị nghệ thuật và cơ hội được ghi nhận của tác phẩm. Ê-kíp sản xuất dễ rơi vào tâm thế thiếu tự tin khi đưa phim tham gia các liên hoan hay giải thưởng. Ở chiều ngược lại, các đơn vị tổ chức, nhà phát hành và đối tác hợp tác cũng thường lựa chọn cách tiếp cận thận trọng hơn đối với những dự án gắn với tên tuổi của cá nhân đang vướng bê bối pháp lý.
“Mức độ thiệt hại trên tất cả các phương diện rất khó đo đếm một cách chính xác. Nhưng có thể khẳng định rằng hậu quả mà một vụ bê bối liên quan đến đời tư gây ra cho bộ phim là rất lớn, chứ không hề đơn giản”, ông Việt nhấn mạnh.
Điểm nghẽn có thể đến từ bất cứ vị trí nào
Với chính nghệ sĩ, việc dính líu đến các hành vi vi phạm pháp luật thường kéo theo những tổn thất nặng nề, trước hết và sâu sắc nhất là sự sụp đổ về uy tín. Uy tín của người làm nghệ thuật vốn không phải thứ được tạo dựng trong thời gian ngắn. Đó là kết quả của nhiều năm lao động nghệ thuật bền bỉ, của tài năng được khẳng định qua tác phẩm, của hình ảnh cá nhân được gìn giữ cẩn trọng và của sự tin yêu mà công chúng từng bước trao gửi. Thế nhưng, chỉ một sai phạm, đặc biệt khi liên quan đến pháp luật, cũng có thể cuốn phăng gần như toàn bộ những giá trị đã tích lũy trong nhiều năm, đồng thời để lại những tác động tiêu cực tới nhận thức và tâm lý của một bộ phận công chúng trẻ.
“Chốt đơn” trở thành ví dụ buồn của điện ảnh Việt.
Một ví dụ điển hình và cũng gây nhiều tiếc nuối là trường hợp Hoa hậu Nguyễn Thúc Thùy Tiên bị kết án hai năm tù giam về tội “Lừa dối khách hàng”. Bộ phim “Chốt đơn” (2025) do cô đảm nhận vai chính chưa kịp ra rạp trong thời điểm đó, đã buộc phải sử dụng công nghệ AI kết hợp kỹ xảo CGI nhằm thay thế hoàn toàn hình ảnh và phần diễn xuất của Thùy Tiên, đồng thời thực hiện lồng tiếng lại bằng diễn viên khác.
“Chốt đơn” được xem là trường hợp đặc biệt nghiêm trọng trong bối cảnh điện ảnh Việt Nam khi lần đầu tiên, một diễn viên giữ vai trò trung tâm của tác phẩm có những hành động dẫn tới án tù thực sự. Dù trước đó, nền điện ảnh Việt từng xuất hiện một vài sự cố liên quan đến diễn viên hay nghệ sĩ tham gia dự án, nhưng chưa có trường hợp nào tạo ra hệ lụy sâu rộng và phức tạp đến như vậy.
Quan sát cụ thể trường hợp trên, nhà phê bình điện ảnh Nguyễn Phong Việt phân tích: “Việc đoàn làm phim “Chốt đơn” sử dụng công nghệ AI không phải nhằm tìm kiếm doanh thu. Từ góc độ của một đơn vị sản xuất chưa phát hành phim, họ buộc phải tìm kiếm giải pháp để chấm dứt vòng đời của tác phẩm. Bởi nếu không đưa phim ra chiếu, rất nhiều hợp đồng liên quan, đặc biệt là các thỏa thuận tài trợ và đầu tư, sẽ không thể hoàn tất. Chỉ khi phim được công chiếu ở một mức độ nhất định, các thỏa thuận đó mới có thể đi đến điểm kết thúc”.
Nhà phê bình điện ảnh Nguyễn Phong Việt. Ảnh: NVCC
Vì vậy, dù nhận thức rõ những giới hạn cũng như những tranh cãi xoay quanh việc ứng dụng công nghệ, ê-kíp vẫn buộc phải chấp nhận giải pháp này như một lựa chọn tình thế nhằm khép lại vòng đời của dự án và hạn chế tối đa các tổn thất có thể tiếp tục phát sinh. Tuy nhiên, câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc xử lý hậu quả của một trường hợp cụ thể, mà còn đặt ra những cảnh báo rộng hơn đối với cách vận hành của ngành điện ảnh hiện nay.
Trên thực tế, rủi ro không chỉ nằm ở những gương mặt giữ vai trò nổi bật. Bất kỳ cá nhân nào trong ê-kíp, ở bất kỳ vị trí nào, cũng có thể vô tình trở thành điểm nghẽn”, kéo theo những ảnh hưởng dây chuyền đối với cả dự án. Từ bài học này, theo nhà phê bình Nguyễn Phong Việt, có thể dự đoán rằng trong thời gian tới, các nhà sản xuất sẽ buộc phải siết chặt hơn các điều khoản ràng buộc đối với diễn viên cũng như toàn bộ nhân sự tham gia dự án, hướng tới những quy định rõ ràng, chi tiết và nghiêm ngặt hơn.
Tuy nhiên, những hàng rào pháp lý hay điều khoản hợp đồng suy cho cùng cũng chỉ là biện pháp kiểm soát từ bên ngoài. Điều quan trọng hơn vẫn nằm ở ý thức nghề nghiệp và trách nhiệm của chính những người làm nghề.
Hoàn thiện cơ chế để nền công nghiệp văn hóa bền vững
Liệu có tồn tại một cơ chế quản lý đủ hiệu quả để cân bằng quyền lợi giữa ê-kíp sản xuất, nhà đầu tư và nghệ sĩ, qua đó giảm thiểu tối đa những rủi ro có thể xảy ra với các dự án nghệ thuật? Bởi nếu chỉ đặt kỳ vọng vào ý thức cá nhân, nguy cơ phát sinh sự cố vẫn luôn hiện hữu và rất khó có thể loại bỏ hoàn toàn.
Đằng sau mỗi dự án là nỗ lực của hàng trăm con người. Ảnh: Fast Motion
Trả lời câu hỏi trên, nhà phê bình điện ảnh Nguyễn Phong Việt cho rằng ngay cả những nền công nghiệp điện ảnh phát triển hàng đầu như Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan… cũng chưa xây dựng được một cơ chế hỗ trợ mang tính hoàn hảo cho vấn đề này.
Tại những nền điện ảnh lớn như vậy, các vụ việc nghệ sĩ vi phạm pháp luật vẫn xuất hiện thường xuyên, từ sử dụng chất cấm đến những hành vi tưởng chừng ít nghiêm trọng hơn như lái xe quá tốc độ, sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông hay các ứng xử thiếu chuẩn mực trong đời sống. Dù ở mức độ nào, những sự cố này vẫn được xem là vấn đề nghiêm trọng đối với ngành công nghiệp giải trí bởi tác động của chúng hiếm khi chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân.
Trong khoảng 3 năm trở lại đây, thị trường điện ảnh Việt Nam cũng đang chứng kiến sự gia tăng đáng kể của quyền lực khán giả cùng với những quy định quản lý nhà nước ngày càng rõ nét hơn. Những vụ việc liên quan đến Thùy Tiên, Miu Lê… sẽ trở thành những bài học trực diện đối với giới làm nghề, không chỉ trong lĩnh vực điện ảnh mà rộng hơn là ngành văn hóa, giải trí. Những sự việc này đặt ra yêu cầu ngày càng rõ ràng về việc thay đổi hành vi nghề nghiệp và tránh xa những rủi ro pháp lý bằng ý thức tự thân.
“Thị trường điện ảnh Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình phát triển và chưa sánh ngang với các nước trong khu vực hay trên thế giới. Do đó, ngành công nghiệp văn hóa cần tiếp tục hoàn thiện cả về quy định pháp lý lẫn cơ chế quản lý, nhằm vận hành hiệu quả hơn trong khi vẫn giữ vững bản sắc văn hóa và thẩm mỹ Việt Nam”, nhà phê bình Nguyễn Phong Việt chia sẻ.
Ở một góc độ khác, những sự việc đáng tiếc xảy ra gần đây với một số nghệ sĩ có thể không chỉ là những cú sốc đối với ngành giải trí, mà còn trở thành động lực thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế và chuẩn hóa môi trường hoạt động nghề nghiệp. Từ đó, góp phần tạo nền tảng để ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp, bền vững và có khả năng thích ứng mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.
Nguyệt Linh