Chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đang tiếp tục tìm cách điều chỉnh thuế quan sau phán quyết của Tòa án Tối cao rằng nhiều mức thuế của ông theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) là vi hiến.
Hãng Reuters dẫn nguồn tin rằng Mỹ bắt đầu thu thuế nhập khẩu toàn cầu tạm thời mới ở mức 10% vào ngày 24-2, nhưng chính quyền ông Trump đang nỗ lực tăng mức thuế này lên 15%.
Trong bối cảnh các diễn biến xung quanh vấn đề thuế quan của Mỹ chưa dừng lại, báo Pháp Luật TP.HCM đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Ngô Hữu Phước, Phó trưởng khoa phụ trách khoa Luật Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐHQG TP.HCM) để tìm hiểu về thẩm quyền của Tòa án Tối cao và của Tổng thống Mỹ trong việc áp thuế.
Tổng thống Mỹ Donald Trump họp báo sau phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ hồi tuần trước. Ảnh: WHITE HOUSE
Thẩm quyền của nhánh tư pháp và hành pháp trong thương mại
. PV: Thưa PGS.TS, phán quyết của Tòa án Tối cao Mỹ ngày 20-2 đã xác định giới hạn quyền của Tổng thống như thế nào? Đây có phải là sự khẳng định thẩm quyền tư pháp cao hơn quyền hành pháp trong lĩnh vực thương mại không?
PGS-TS Ngô Hữu Phước, Phó trưởng khoa phụ trách khoa Luật Kinh tế, Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐHQG TP.HCM)
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Trong vụ việc Learning Resources, Inc. v. Trump vừa qua, Tòa án Tối cao Mỹ (SCOTUS) đã phán quyết với tỉ lệ 6-3 rằng IEEPA không ủy quyền cho Tổng thống áp đặt thuế quan vô hạn định về phạm vi, mức độ và thời gian.
Phán quyết xác lập ba giới hạn hiến định quan trọng. Đầu tiên là nguyên tắc phân quyền về thuế quan. Theo Điều I, Mục 8 của Hiến pháp Mỹ, quyền “đặt và thu các loại thuế, thuế quan, thuế nhập khẩu” thuộc về Quốc hội, cơ quan đại diện trực tiếp cho nhân dân. Vì vậy, Tổng thống không có thẩm quyền vốn có để áp thuế trong thời bình.
Thứ hai, giải thích IEEPA trong giới hạn hẹp, Tòa án phân tích rằng đạo luật này cho phép tổng thống “điều chỉnh hoạt động nhập khẩu” khi có tình trạng khẩn cấp, nhưng không đề cập “thuế quan” hay “thuế nhập khẩu”. Do đó, IEEPA không thể được hiểu là trao cho tổng thống thẩm quyền áp thuế diện rộng.
Thứ ba, áp dụng Học thuyết Vấn đề Lớn (Major Questions Doctrine), Tòa cho rằng nếu Quốc hội muốn trao cho nhánh hành pháp thẩm quyền giải quyết vấn đề có tầm quan trọng kinh tế và chính trị lớn (như áp thuế hàng trăm tỉ USD), họ phải thể hiện điều đó bằng ngôn ngữ rõ ràng và cụ thể. IEEPA không đáp ứng yêu cầu này. Tòa cũng lưu ý rằng trong gần 50 năm lịch sử IEEPA, chưa có tổng thống nào sử dụng đạo luật này để áp thuế, củng cố kết luận rằng Quốc hội không bao giờ có ý định trao quyền đó.
Về câu hỏi liệu đây có phải là sự khẳng định thẩm quyền tư pháp cao hơn hành pháp hay không, tôi cho rằng là có, nhưng cần hiểu chính xác bản chất. Đây là sự khẳng định thẩm quyền tư pháp cao hơn hành pháp trong lĩnh vực thương mại, theo đúng nguyên tắc phân quyền đã được thiết lập từ vụ Marbury v. Madison (1803). Tòa án không tự nhận mình “cao hơn” hành pháp trong hệ thống phân quyền, mà thực hiện đúng chức năng hiến định: kiểm tra và vô hiệu hóa hành động hành pháp vi hiến hoặc vượt quá thẩm quyền được Quốc hội trao. Đây là tín hiệu rõ ràng rằng Tổng thống không có thẩm quyền đơn phương vô hạn và tòa án sẽ can thiệp khi hành pháp vượt quá ranh giới pháp lý.
. PV: Nếu Tòa án Tối cao Mỹ đã kết luận việc áp thuế trước đó là không phù hợp, vì sao Tổng thống Trump vẫn có thể ký một lệnh thuế mới chỉ trong vài giờ sau đó, thưa PGS.TS?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Ngay sau phán quyết, Tổng thống Trump đã ký sắc lệnh áp thuế 15% dựa trên Mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974. Việc này có thể được thực hiện vì 4 lý do pháp lý sau:
Thứ nhất, phạm vi của phán quyết là giới hạn. Tòa chỉ phán quyết về tính hợp pháp của việc áp thuế theo IEEPA, không phán quyết về quyền áp thuế nói chung của Tổng thống. Đồng thời, phán quyết không kèm theo lệnh cấm thực thi ngay lập tức đối với các hành động mới dựa trên luật khác.
Thứ hai, Mục 122 là một cơ sở pháp lý riêng biệt và chưa bị xem xét trong vụ kiện trước đó. Mục 122 cho phép Tổng thống áp thuế tạm thời khi Mỹ đối mặt “thâm hụt cán cân thanh toán lớn và nghiêm trọng” hoặc nguy cơ “đồng USD mất giá mạnh”. Điều khoản này được Quốc hội bổ sung sau “cú sốc Nixon” năm 1971 và cho phép hành động ngay lập tức, không yêu cầu điều tra trước.
Thứ ba, dựa trên nguyên tắc không hồi tố, phán quyết của Tòa chỉ có hiệu lực cho tương lai và cho vụ việc cụ thể, không tự động vô hiệu hóa các hành động chưa xảy ra dựa trên cơ sở pháp lý khác.
Thứ tư, theo nguyên tắc về vụ việc cụ thể theo Điều III Hiến pháp Mỹ, để ngăn chặn lệnh mới dựa trên Mục 122, cần có vụ kiện mới với đối tượng khiếu kiện cụ thể và vụ việc đã chín muồi theo Điều III Hiến pháp. Quá trình này cần thời gian, cho phép hành pháp hành động trước.
Như Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent giải thích, cách tiếp cận mới “ít trực tiếp hơn và hơi phức tạp hơn” nhưng được thiết kế để “có độ bền vững pháp lý đáng kinh ngạc”.
Tòa án Tối cao Mỹ ở thủ đô Washington, DC. Ảnh: THE NEW YORK TIMES
Tính khả thi và rủi ro của các công cụ pháp lý khác
. PV: Theo PSG.TS, ông Trump có thể tránh phán quyết của Tòa án Tối cao bằng cách đổi sang luật khác như Điều 122 và Điều 301 để áp thuế mới không, hay điều đó vẫn có nguy cơ bị Tòa án hạn chế tiếp?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Trước hết, việc sử dụng các đạo luật khác không nên xem là “lách luật”, mà là tận dụng những thẩm quyền hợp pháp mà Quốc hội đã trao cho Tổng thống. Tuy nhiên, mỗi đạo luật đều có điều kiện và giới hạn riêng và đều tiềm ẩn nguy cơ bị Tòa án hạn chế nếu sử dụng không đúng.
Với Mục 122 của Đạo luật Thương mại 1974, Tổng thống có thể áp thuế tối đa 15% trong vòng 150 ngày khi tồn tại “thâm hụt cán cân thanh toán lớn”. Đây là công cụ tạm thời và chưa từng được dùng cho thuế toàn cầu, nên dễ bị kiện vì cho rằng điều kiện thực tế không thỏa mãn hoặc quyền được ủy quyền cũng mơ hồ như IEEPA.
Mục 301 của Đạo luật Thương mại 1974 cho phép áp thuế không giới hạn sau khi điều tra hành vi thương mại không công bằng. Công cụ này từng được tòa án duy trì trong quá khứ. Tuy nhiên, nếu chính quyền áp thuế mà không có căn cứ điều tra đầy đủ, hoặc biện pháp đi ngược lại các cam kết quốc tế như nguyên tắc tối huệ quốc của Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), thì vẫn có thể bị thách thức trước tòa.
Mục 232 của Đạo luật Mở rộng Thương mại 1962 cho phép áp thuế theo ngành nếu có đe dọa đến an ninh quốc gia. Tòa án từng chấp thuận việc sử dụng điều khoản này nhưng nếu mở rộng sang các ngành không liên quan rõ ràng đến an ninh (ví dụ đồ nội thất, thiết bị điện tử tiêu dùng) sẽ gặp rủi ro pháp lý lớn.
Trong khi đó, Mục 338 của Đạo luật Thuế quan 1930 cho phép áp thuế đến 50% đối với quốc gia có hành vi phân biệt đối xử thương mại. Đây là điều khoản ít được sử dụng và hầu như chưa được kiểm nghiệm qua tranh tụng, nên nếu áp dụng, rất dễ bị kiện.
Tóm lại, Tổng thống Trump có thể dùng luật khác để thay thế, nhưng không thể tự do áp thuế vô hạn như trước. Nếu chính quyền không tuân thủ đúng điều kiện của từng đạo luật, các biện pháp mới hoàn toàn có thể bị doanh nghiệp kiện và Tòa án sẽ tiếp tục can thiệp, hạn chế.
. PV: Việc áp dụng mức thuế 15% trong thời hạn 150 ngày hiện nay nên được hiểu như thế nào, thưa PGS.TS? Nếu sau 150 ngày mà Quốc hội vẫn không đồng ý, ông Trump còn quân bài pháp lý nào khác không?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Mức thuế 15% vừa là biện pháp tạm thời theo đúng khuôn khổ pháp lý của Mục 122, vừa là công cụ tạo đòn bẩy đàm phán để duy trì áp lực với các đối tác thương mại.
Về mặt pháp lý, Mục 122 quy định rõ thời hạn tối đa 150 ngày. Sau thời gian này, nếu muốn kéo dài biện pháp, chính quyền phải chờ Quốc hội phê chuẩn. Khi ban hành quy định này năm 1974, Quốc hội đã cố tình đặt ra giới hạn này để ngăn Tổng thống lạm dụng một công cụ tạm thời cho mục tiêu dài hạn.
Về khả năng Quốc hội phê chuẩn gia hạn, nhiều chuyên gia đánh giá là khá thấp. Thuế quan không nhận được nhiều ủng hộ từ cử tri; các nghị sĩ lo ngại tác động tiêu cực đến kinh tế tại khu vực bầu cử của mình; đồng thời cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2026 đang đến gần khiến họ thận trọng hơn với những quyết định dễ gây tranh cãi.
Nếu sau 150 ngày Quốc hội không phê chuẩn, Tổng thống Trump vẫn còn một số lựa chọn pháp lý.
Thứ nhất, chuyển sang Mục 301 sau khi hoàn tất điều tra. Đây là lộ trình chính quyền đang chuẩn bị. Đại diện thương mại Mỹ (USTR) đã khởi động các cuộc điều tra mới bao trùm hầu hết đối tác thương mại lớn về các vấn đề như dư thừa công suất công nghiệp, lao động cưỡng bức, phân biệt đối xử với công ty công nghệ Mỹ, thuế dịch vụ kỹ thuật số. Các cuộc điều tra này có thể kéo dài đến một năm, nhưng có thể đưa ra kết luận ngay sau khi Mục 122 hết hạn.
Thứ hai, mở rộng điều tra theo Mục 232. Bộ Thương mại Mỹ đang xem xét điều tra mới ở các ngành như pin, hóa chất, nhựa, thiết bị viễn thông và lưới điện. Đồng thời, các cuộc điều tra về khoáng sản, bán dẫn, robot và thiết bị y tế cũng đang được tiến hành.
Thứ ba, kết hợp nhiều công cụ. Chính quyền có thể viện dẫn đồng thời Mục 301 và Mục 232 để bổ sung cho thuế theo Mục 122, tạo thành một hệ thống thuế quan nhiều lớp có thể duy trì thêm ít nhất vài năm.
Thứ tư, sử dụng Mục 338 của Đạo luật Thuế quan 1930. Điều khoản ít được biết đến này cho phép Tổng thống áp thuế đến 50% đối với hàng hóa từ các nước có hành vi phân biệt đối xử với thương mại Mỹ. Tuy nhiên, điều khoản này chưa được kiểm nghiệm nhiều tại tòa và tiềm ẩn rủi ro pháp lý lớn.
“Có nhiều phương pháp, thông lệ, đạo luật và thẩm quyền mạnh hơn IEEPA mà tôi có thể sử dụng với tư cách Tổng thống Mỹ” - Tổng thống Trump nói.
. PV: Tương lai của khoản thuế, được cho là lên tới 175 tỉ USD, mà Tòa yêu cầu hoàn trả cho doanh nghiệp sẽ ra sao, thưa PSG.TS?
+ PGS-TS Ngô Hữu Phước: Về mặt pháp lý, Tòa án Tối cao Mỹ không tự động yêu cầu hoàn trả 175 tỉ USD trong phán quyết ngày 20-2. Thay vào đó, Tòa tuyên vô hiệu các mức thuế bị coi là bất hợp pháp và chuyển vấn đề xử lý hậu quả cụ thể cho Tòa án Thương mại Quốc tế Mỹ (CIT). Đây là quy trình chuẩn: Tòa án Tối cao xác định nguyên tắc pháp lý, còn tòa cấp dưới giải quyết các hậu quả thực tế.
Theo luật thương mại Mỹ, các nhà nhập khẩu có thời hạn 2 năm để khởi kiện tại CIT nhằm yêu cầu hoàn trả. Khoản tiền được hoàn lại sẽ kèm lãi suất tính từ ngày nộp thuế đến ngày thanh lý hoặc tái thanh lý tờ khai. Đối với các lô hàng đã được thông quan trong vòng 180 ngày gần đây, quy trình hoàn trả có thể diễn ra nhanh hơn.
Hiện tại đã có hơn 1.000 vụ kiện được nộp tại CIT. Một số doanh nghiệp lớn như FedEx, Costco, Revlon và EssilorLuxottica đã khởi kiện.
. PV: Xin cảm ơn chuyên gia.
Bài học về pháp quyền
PGS-TS Ngô Hữu Phước cho rằng phán quyết vừa qua là minh chứng rõ nét cho sức mạnh của thể chế pháp quyền Mỹ.
Thứ nhất, dù Tổng thống nắm giữ thẩm quyền rộng trong lĩnh vực thương mại, mọi hành động vẫn phải nằm trong khuôn khổ luật do Quốc hội ban hành; không một cá nhân hay cơ quan nào đứng trên pháp luật.
Thứ hai, cơ chế phân quyền và kiểm soát – cân bằng đã vận hành đúng chức năng. Khi nhánh hành pháp bị cho là vượt quá giới hạn được trao, nhánh tư pháp có thể can thiệp để khôi phục trật tự hiến định.
Thứ ba, các đạo luật được ban hành từ thập niên 1970, như Mục 122 hay IEEPA, vẫn phát huy hiệu lực trong bối cảnh thế kỷ 21, cho thấy tính bền vững của hệ thống pháp luật trong việc kiểm soát quyền lực.
“Trong một nhà nước pháp quyền, quyền lực luôn đi kèm với giới hạn, và mọi hành động của chính phủ đều phải chịu sự kiểm tra của tư pháp. Đây không phải là điểm yếu, mà là sức mạnh của nền dân chủ hiến định, nơi luật pháp là thước đo cuối cùng cho mọi quyết sách” - PGS-TS Ngô Hữu Phước nhận định.
THẢO VY