Nhà thơ Hồ Khải Hoàn-con trai út của nhà thơ Hồ Khải Đại-cho biết, từ lúc xuất hiện trên văn đàn (năm 1955) cho đến lúc về miền mây trắng, Hồ Khải Đại có các tác phẩm chính “Thơ chiến sĩ”, năm 1955; “Cây xuân”, năm 1962 (in chung với Võ Văn Trực); “Mạch đường giải phóng”, năm 1974, “Hướng dẫn viết kỷ niệm sâu sắc chống Mỹ cứu nước”, năm 1976, “Quê hương đồng đội”, năm 1980.
Ngoài ra, Hồ Khải Đại còn có các tác phẩm khác như “Hương xã Nam Trung”, Tạp kỹ, 1996; “Mặt trời đồng đội”, in chung với Hồ Khải Hoàn, năm 2002; “Thơ chữ Hán-Hồ Khải Đại”, công trình nghiên cứu Văn học Hán-Nôm, năm 2017; “Tuyển tập Thơ-văn Hồ Khải Đại”, năm 2017.
Gần đây, thơ Hồ Khải Đại có mặt trong tuyển tập thơ “Cha và con và thơ”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2025. Tác phẩm này in chung cùng 2 con trai ông là Hồ Quốc Thái, Hồ Khải Hoàn.
Hồ Khải Đại khi xuất hiện trên thi đàn, từng được Tố Hữu, Xuân Diệu-2 người trong số 25 nhà văn sáng lập ra Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá rất cao, được xem là một tài năng cần được bồi dưỡng. Ông từng đoạt giải 3 của Hội Văn nghệ Việt Nam (năm 1955) cho tập “Thơ Chiến sĩ” và giải Cống hiến của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2017).
Bìa tác phẩm thơ của 3 cha con nhà thơ Hồ Khải Đại - Ảnh: Đ.H
Hồ Khải Đại đi bộ đội và làm báo Quân đội, từ năm 1950, khi ông đang học Đệ nhị College Vinh (Nghệ An), tương đương lớp 11 của phổ thông trung học ngày nay. Trên đường vào chiến trường, Hồ Khải Đại có những bài thơ chan chứa tình đất, tình người như “Nghe chim tu hú giữa rừng Gia Lai”, “Mặt trời đồng đội”... Đặc biệt, nhiều bài thơ như “Đường ra mặt trận”, “Mạch ơi”, “Bài thơ Hà Nội”..., ông sáng tác những năm 1966 và năm 1972 trên đất Quảng Trị.
Mảnh đất hai bờ giới tuyến tạm thời, những năm đất nước chưa giải phóng, tiếp tục ám ảnh tâm hồn Hồ Khải Đại, thể hiện trong các bài thơ “Về cầu Long Đại”, “Quảng Bình”, “Em có nhớ Trường Sơn”, “Đọc tên đồng đội”...“Mối thù khắc lên cây, lên đá/Thù của cha ông, thù của cháu con/Thù riêng ta, thù của nước non/Thù muôn kiếp-dồn ra mặt trận/Thù giặc Mỹ hằn sâu vừng trán”, (trích Đường ra mặt trận). Nợ nước, thù nhà-đó là lý do biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống, vì Tổ quốc quyên sinh, là lý do biết bao lớp thanh niên ưu tú, chọn “Lý tưởng đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù”, như câu nói của anh hùng Lê Mã Lương thuở ấy.
“Súng tiến công giòn giã bốn bề/Từ Đầu Mầu, Cù Đinh, Bảng Hiệu/ Đường số Chín, Cồn Tiên, Dốc Miếu/Giặc Mỹ vô đây máu chảy bầm sông/Máy bay, xe tăng, thiết giáp, ca nông/Xẻ ruộng vườn ta, chí ta vẫn vững”, (trích Đường ra mặt trận). Bài thơ “Đường ra mặt trận” được nhà thơ Hồ Khải Đại sáng tác vào tháng 10/1966, lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt. Những bài thơ của Hồ Khải Đại đọc lại hôm nay như lần giở từng trang ký ức. Để tự hào, nâng niu giá trị của hòa bình.
“Nhật Lệ ơi! Đêm nằm nghe sóng gọi/ Gió thông reo dào dạt biển quê mình/ Kìa những chòm sao từ đâu nghiêng tới/ Hãy cùng ta hôn mảnh đất Quảng Bình”, (trích Quảng Bình).
Nhà thơ Hồ Khải Đại quan niệm: “Văn chương hay là tinh hoa tính trời, nết đất, tình người... Nhà thơ yêu quý nhân dân nên được nhân dân mến mộ trọn đời”. Thơ ông giản dị, nhưng tràn đầy cảm xúc lãng mạn: “Tôi trở về Long Đại/Tìm chuyến phà năm xưa/Nhớ bàn tay cô gái/Cầm tay tôi trong mưa” (trích Về cầu Long Đại).
Đã là chiến tranh thì không tránh khỏi mất mát hy sinh, nhiều đồng đội ông ngã xuống trên chiến trường. “Mạch ơi!Mày ẩn rừng cây/Hay ngồi bên suối đợi ngày tiến quân?/Thương mày tao khóc bao lần/Thế gian còn lắm nợ nần... Mạch ơi” (trích Mạch ơi). Bài thơ này, Hồ Khải Đại viết tại Quảng Trị năm 1972. Đó là những năm tháng, lực lượng vũ trang và Nhân dân Quảng Trị chiến đấu quả cảm, chịu nhiều mất mát, hy sinh trong chiến dịch Thành Cổ Quảng Trị.
Với người lính Hồ Khải Đại, ông thấm hơn ai hết “Quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu”, do vậy, ông có những bài thơ nâng niu tình cảm quân dân, tình cảm đoàn kết của những người lính trong một chiến hào. “Trên bãi cỏ non rạo rực buổi ban đầu/iềm vui lớn reo vang/ Chào mặt trời đồng đội” (trích Mặt trời đồng đội). Mỗi người lính, bạn chiến đấu của ông là một “mặt trời”, sưởi ấm tâm hồn.
Nhà thơ Hồ Khải Đại có 3 người con thì 2 con trai đều nhập ngũ. Con trai cả, Hồ Quốc Thái, nhập ngũ năm 1970, biên chế thuộc Sư đoàn 324 (F324), Quân khu Trị-Thiên; con trai út-nhà thơ Hồ Khải Hoàn-từng là người lính.
Cả 2 người con của ông sau khi xuất ngũ, đều trưởng thành. Hồ Quốc Thái, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội. Hồ Khải Hoàn là bác sĩ, tiến sĩ Y khoa, nguyên Phó Trưởng khoa tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
“Sáng nay con ra đi/Cha đứng uy nghi dáng người chiến sĩ/Cha đồng chí, đón con đồng chí/Cha trao cho con chiếc mũ đính Sao Vàng/Sao lung linh từng bước dẫn đường/Cha trao cho con đôi dép lốp/Dép từng đi chiến trường Nam-Bắc đạp xác quân thù, đạp chông gai” (trích Tiễn con). Bài thơ này người lính-nhà thơ Hồ Khải Đại viết tặng con trai Hồ Quốc Thái, ngày anh nhập ngũ.
Đọc thơ Hồ Khải Đại viết về 2 con trai và con gái Hồ Lam Giang mới hiểu trái tim ông chan chứa yêu thương, hiện lên một gia đình vừa có truyền thống yêu nước, vừa có truyền thống văn học nghệ thuật. Lý tưởng làm đẹp thêm tâm hồn và ngược lại, tâm hồn làm cho lý tưởng thêm những vẻ đẹp nhân văn.
“Thơ quý nhất là “ôn nhu đôn hậu” giản dị, sâu sắc làm rung cảm lòng người. Thơ luôn hướng tới cái đích Chân-Thiện-Mỹ”, nhà thơ Hồ Khải Đại quan niệm. Chính ông luôn thực hành sáng tạo theo tinh thần ấy của thi ca. Những tác phẩm của ông luôn giản dị, mộc mạc như chính sự hồn hậu, chân chất của anh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Sinh thời, dù khi tuổi đã cao nhưng nhà thơ Hồ Khải Đại vẫn thường xuyên theo dõi, đọc và nghiên cứu tác phẩm của các tác giả trẻ. Theo ông, “nhà thơ hiện đại bây giờ, làm thơ thoải mái quá. Thời kỳ đầu của chúng tôi, thơ đơn điệu hơn. Nhưng, không có nghĩa thoải mái, không gò bó là cái gì cũng thành thơ được”. “Thơ xưa hay thơ nay, tiêu chí phải hay. Hình thức thế nào không quan trọng. Những bài thơ hay, những câu thơ hay, đọc một lần là nhớ...”, ông quan niệm.
Nhà thơ Hồ Khải Đại cho rằng, dù muốn hay không, thì cuối cùng nghệ thuật cũng là để phục vụ con người, nếu không, các nhà thơ ấy hãy tự đọc, làm cho nhau đọc, chứ đừng công bố trên báo, đừng bắt Nhân dân đọc, đừng làm khổ người đọc nữa…
Những năm cuối đời, Hồ Khải Đại vẫn thường xuyên nghĩ đến thơ ca, tràn ngập tình yêu thi ca trong tâm hồn, nghĩ về những dự định và các tác phẩm đang còn dở dang của mình. Không chỉ in sách, Hồ Khải Đại còn có nhiều bài thơ được in trên báo Văn nghệ, báo Nhân Dân…, được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam qua giọng ngâm của nghệ sĩ ưu tú Kim Cúc...
Theo nhà thơ Hồ Khải Hoàn, hạnh phúc nhất của Hồ Khải Đại là được những đồng đội của mình chờ đón đến thời điểm 22 giờ tối, quây quần quanh chiếc radio bé xíu nghe thơ ông… Trong chương trình của các đoàn dân công của thời “Tiếng hát át tiếng bom” trên đất Quảng Trị, một thời luôn xếp thơ Hồ Khải Đại trong chương trình biểu diễn. “Như gặp Trường Sơn mùa xuân ấy/Gió rì rầm suối chảy nắng râm ran/Em gánh gạo nuôi quân nơi rừng sâu Quảng Trị/Áo rách vai, mây trắng vá non ngàn” (trích Em có nhớ Trường Sơn).
Thơ Hồ Khải Đại là nơi lưu giữ ký ức, lưu giữ tâm hồn. Thơ xác tín ông là người giàu cảm xúc, nặng nghĩa với cuộc đời nói chung và mảnh đất Quảng Trị nói riêng. Giữ gìn ký ức sống, ký ức văn hóa cũng góp phần tạo nên diện mạo, phẩm giá của thi ca.
Ngô Đức Hành