Họa sĩ Bửu Chỉ, sinh ngày 8/10/1948, tại Huế. Từ năm 1986 đến khi qua đời, họa sĩ Bửu Chỉ đã tham gia nhiều cuộc triển lãm chung và cá nhân ở trong và ngoài nước. Ông mất ngày 14/12/2002 tại Huế. Tranh của ông được các Bảo tàng Mỹ thuật trong và ngoài nước, cùng các nhà sưu tập tư nhân trên thế giới sưu tập. Ông cũng là họa sĩ Huế có nhiều tranh vẽ được sử dụng trên các trang bìa các tạp chí, tập san, sách, tuyển tập. Trong số tranh của họa sĩ Bửu Chỉ có 4 bức tranh về đề tài con ngựa, gồm:
Bức tranh thứ nhất : Có tên Ngựa đá, tranh sơn dầu được in ở bìa 1 Tạp chí Sông Hương số 32 (1988), với hình ảnh rất đẹp, nhẹ nhàng, thanh thoát mang hơi thở của rêu phong. Trên lưng con ngựa có 3 vết nứt, trong đó vết nứt ở giữa yên ngựa lại có một cành hoa nở bông màu vàng cháy như thể hiện một thông điệp bừng sức sống của vạn vật cùng với sự hồi sinh của di tích Huế.
Ngựa đá
Bức tranh thứ hai: Đó là bức tranh Ngựa, in trên trang bìa 1 Tạp chí Sông Hương số 40 (1990). Ngựa có dáng cao lớn với ngũ sắc xanh đậm, xanh nhạt, vàng, đỏ và trắng theo bố cục thân ngựa màu trắng, dây cương màu đỏ, yên ngựa, yếm ngựa màu xanh đậm lẫn xanh nhạt, đỏ, vàng.
Điều đặc biệt là họa sĩ Bủu Chỉ còn tạo dấu ấn hoa văn hình học trên yên ngựa với các hình vuông, hình tròn phối các màu xanh, đỏ, tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng. Trong đó, một hình tròn phía trên yên ngựa tượng trưng cho mặt trời, một hình tròn dưới bụng con ngựa có màu xanh là tượng trưng cho mặt trăng. Hai hình tròn này có thể xem là biểu tượng thuyết âm dương và các màu sắc tượng trưng cho ngũ hành, mang tính triết lý nhân sinh quan của con người và vạn vật.
Bức tranh thứ ba: Có tên Làm xiếc (1988)([1], với bố cục rộng, có 1 con ngựa và 3 diễn viên xiếc đang làm trò. Với hình ảnh trên lưng con ngựa đang có 1 diễn viên xiếc chống tay trên yên ngựa, đầu chúc, mặt hướng về phía khán giả; hai diễn viên khác đang làm trò ở hai bên sân khấu.
Con ngựa được vẽ với bố cục những đường vuông góc, mặt ngựa hình thang, hơi dài đúng với câu nói của dân gian “dài như mặt ngựa”. Thân ngựa hình chữ nhật, 4 chân ngựa hình vòm vuông góc chắc nịch. Ở bụng ngựa có hình bát quái xanh đỏ là thuyết âm dương mà họa sĩ Bửu Chỉ đã từng thể hiện trên nhiều bức tranh khác. Khuôn mặt của ngựa có dáng vẻ trầm lắng, mệt mỏi.
Ba diễn viên xiếc cũng có bố cục tương tự, ngôn ngữ hình thể với những đường nét thẳng hàng vuông góc, trên tay cầm bát quái đầu chúc xuống đất. Toàn cảnh bức tranh cho ta thấy số phận của ngựa và người đều rơi vào trạng thái trầm buồn, có lẽ một sự lặp đi lặp lại của những động tác làm xiếc, sự máy móc của công việc, sự nhạt nhẽo của cuộc sống. May ra có gam màu chủ đạo phía sau bức tranh là màu gạch, màu đỏ là những gam màu ấm, nóng cũng đã vơi đi sự buồn mênh mang đó. Đồng thời, chính gam màu đó đã làm cho người xem chú ý vào con ngựa và màu nền ở 3 diễn viên xiếc là màu vàng tượng trưng cho ánh điện sáng đang thu hút người xem hướng về các diễn viên đang làm trò trên sân khấu, điều này đã gây sự chú ý cho người xem xiếc lẫn người xem tranh.
Làm xiếc
Bức tranh thứ 4: Được vẽ vào tháng 4/2001, có tên Ngựa đá và hoa - Sơn dầu, kích thước 80x100cm[2].
Bức tranh này rất thần thái, với hình con ngựa to khỏe, thể hiện một sức mạnh đích thực. Đây là hình ảnh con ngựa mà chúng ta thường hay thấy trên di tích lăng vua Triều Nguyễn ở Huế, hay còn gọi là ngựa trên di tích.
Với những đường nét mềm mại từ dây cương cho đến yên ngựa, người xem có thể nhận thấy con ngựa mang chút hồi sinh trên di tích. Mặc dù ở yên ngựa có 2 vết nứt khá sâu nhưng không phá vỡ tỷ lệ kích thước của thân ngựa. Điểm xuyến cho tượng ngựa đá, tác giả đã nhả từng nét cọ vào những khóm hoa với sắc màu dịu nhẹ, hoa đang nở tươi tốt, sum suê vươn ra 4 phía, nơi ngựa đá đang đứng. Cả ngựa đá và hoa như đang bừng sức sống, đang hòa minh vào thiên nhiên, đó là hoa đâm chồi nảy lộc, ngựa được thổi hồn vào sức sống; sự bừng dậy của di tích rêu phong sau thời gian dài im lắng nghe gió, nghe mưa.
Ngựa đá nhẹ nhàng như được sống lại nhờ thiên nhiên và con người. Khuôn mặt ngựa đá từ con mắt đến các cơ mặt đều toát lên vẻ tươi tắn, căng múp. Hai chân trước của ngựa dựng thẳng đứng chắc chắn, hai chân sau nhẹ nhàng nhưng chắc nịch, đuôi ngựa thẳng tắp to khỏe. Màu của bức tranh là màu xanh đậm và màu gạch của hoa và thiên nhiên đã tỏa sáng cho màu bàng bạc của ngựa đá, điều này đã gây sự chú ý cho người xem và hầu hết tranh của họa sĩ Bửu Chỉ đều có gam màu trầm lắng và nhẹ nhàng.
Sự rêu phong và sự đượm màu cổ điển của bức tranh Ngựa đá và hoa như còn vương vấn miền cổ tích lăng tẩm xưa, của dáng vẻ trầm mặc của Huế mình.
Xem 4 bức tranh mà họa sĩ Bửu Chỉ vẽ về ngựa, chúng ta sẽ thấy một triết lý nhân sinh quan mà ông luôn chú ý trong sáng tác. Họa sĩ Đinh Cường đã nhận xét “Bửu Chỉ luôn tìm những tín hiệu mới cho tranh, đó là thời gian và phận người”. Những bức tranh ngựa nói trên của ông chính là thời gian bao phủ lên ngựa đá, thời gian làm rạng rỡ ngựa tâm linh của người Huế và phận người làm xiếc trên mình ngựa như đánh cược cùng số phận.
Một người bạn của họa sĩ Bửu Chỉ là Nguyễn Hữu Ngô, người thấu hiểu những đường cọ, nét mực của Bửu Chỉ từng nhận xét: “Làm việc đều mà lại có vẻ tà tà là phong cách của anh. Một hôm người ta thấy tranh anh treo đầy trên tường của một quán cà phê trong thành phố. Đó là một loạt tác phẩm thể nghiệm được thực hiện với một chất liệu hơi lạ là loại bố thô lấy từ bao tải đựng gạo. Cuộc trưng bày tranh trước công chúng “kiểu êm êm” này gây thích thú không ít. Khuôn mặt tròn như trăng rằm của thằng bé. Con ngựa gỗ - đồ chơi của con anh hay ngựa sắt Phù Đổng trong truyền thuyết. Những mặt trời hay vòng sáng của niềm hy vọng. Những biểu tượng về sự kết hợp âm dương đầy bí ẩn. Giới thưởng ngoạn trong thành phố gọi tranh này của anh là tranh tô tem. Có lẽ do tính cách tượng trưng, vẻ huyền bí, vừa là ngây thơ trong cách nhìn”(3).
Nhân dịp xuân Bính Ngọ 2026 đang về, ngồi lật từng trang tranh Bửu Chỉ trong những ngày mưa gió, thấy ấm lòng bởi họa sĩ Bửu Chỉ đã gửi những nét Huế.
[1]: Tranh Bửu Chỉ. NXB Trẻ, 20023, trang 100.
[2]: Tranh Bửu Chỉ. NXB Trẻ, 20023, trang 117.
[3]: Bửu Nam, Phạm Thị Anh Nga (Chủ biên): Bửu Chỉ đường bay nghệ thuật và ký ức trần gian. NXB Hội Nhà văn, Hà Nôị2012, trang 113.
NGUYỄN KHÁNH PHONG