Hoàn thành tâm nguyện Bác Hồ, đưa dân tộc tới đài vinh quang

Hoàn thành tâm nguyện Bác Hồ, đưa dân tộc tới đài vinh quang
4 giờ trướcBài gốc
Bác Hồ bắt nhịp bài ca kết đoàn. Ảnh: Lâm Hồng Long
Ngày 5-6-1911, trong bối cảnh vong quốc nô; từ bến cảng Nhà Rồng, với ý chí và niềm tin cách mạng, Nguyễn Tất Thành khởi đầu hành trình tìm đường cứu nước cứu dân dài lâu tới 30 năm. Đó là quá trình tự dấn thân vì nghĩa lớn dân tộc, chịu đựng gian khổ để lao động kiếm sống, tích lũy tri thức nhân loại, lăn xả vào hoạt động cách mạng trong phong trào cộng sản quốc tế. Tài sản vô giá mà Người tích lũy được là con đường cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Mác-Lênin. Thành quả mà Người mang lại cho dân tộc là sự sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1941, Người trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo cách mạng, thành lập Mặt trận Việt Minh, làm mái nhà chung cho mọi giai tầng xã hội đoàn kết, đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong cuốn “Lịch sử nước ta” (xuất bản năm 1942) Hồ Chí Minh kết lại lời hiệu triệu muôn dân:
“Dân ta xin nhớ chữ đồng:
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.
Trong lời kết của bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ (ngày 2-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định đanh thép: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Nhờ đó mà chế độ dân chủ nhân dân non trẻ đủ sức mạnh vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”.
Lời thề độc lập của dân tộc Việt Nam tiếp tục được vang lên trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (ngày 19-12-1946), như tiếng vọng của non sông trong giờ phút thiêng liêng: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó là thông điệp lịch sử của một dân tộc luôn ngẩng cao đầu trước phong ba bão táp thời đại, làm người lính tiên phong trong thời đại đấu tranh giải phóng dân tộc, “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.
Thực dân Pháp theo đuổi chiến tranh cướp nước lần thứ 2, cuối cùng cũng bị đánh đổ; đế quốc Mỹ thay chân Pháp hòng biến miền Nam Việt Nam thành nơi dựng đồn bốt ngăn chặn làn sóng cách mạng theo chủ nghĩa cộng sản ở châu Á-Thái bình dương. Cậy nhiều tiền của, lắm vũ khí tối tân, đế quốc Mỹ đã bất chấp dư luận thế giới, giẫm đạp lên công lý, đổ quân trực tiếp tham chiến tại Việt Nam. Trong cuộc đọ sức lịch sử mang tính thời đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn dân kháng chiến chống Mỹ cứu nước (ngày 17-7-1966), trong đó Người tin tưởng, cuối cùng chính nghĩa Việt Nam sẽ toàn thắng, minh chứng cho chân lý bất hủ về sức mạnh vô địch của khát vọng độc lập, tự do: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa.
Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. Mạch nguồn sức mạnh dân tộc được lắng đọng trong Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh (tháng 5-1969): “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh xuyên suốt trong mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh lịch sử đều tập trung vào nhân lõi của tinh thần bất khuất, theo dòng thời đại lịch sử, tự quyết chính trị, không một thế lực phản động nào có thể ngăn cản con đường đi lên của dân tộc Việt Nam. Luôn nhất quán “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”; theo dòng thời đại, cách mạng Việt Nam luôn là một phần quan trọng nuôi dưỡng khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, giàu mạnh, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc cho nhân loại.
Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, dân ta đã đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, được Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh soi rọi, đã lập nhiều kỳ tích vĩ đại, ghi dấu ấn trong lịch sử nhân loại, tiêu biểu là: Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, thay đổi vận mệnh dân tộc từ vong quốc nô trở thành dân tộc độc lập; Chiến thắng Điện Biên phủ (ngày 7-5-1954) đánh dấu sự sụp đổ chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi thế giới; Đại thắng mùa xuân 1975 (ngày 30-4-1975) là dấu chấm hết cho chủ nghĩa thực dân mới trên phạm vi thế giới; Giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh dân tộc (ngày 7-1-1979)...
Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước (tháng 12-1986), mở ra kỷ nguyên “vượt cạn” hậu Xô viết. Sau 40 năm đổi mới sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam luôn kiên trì, kiên định, vững niềm tin, vững tay chèo, biết giang rộng vòng tay hữu nghị, thân thiện, thân tình, thủy chung với láng giềng gần, xích lại với bạn bè phương xa. Để hôm nay, Việt Nam trở thành một biểu tượng ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, của đức hy sinh vì lương tri, phẩm giá nhân loại, vì sự tiến bộ, lẽ công bằng, chân lý lịch sử.
Trước năm 2026 là nền tảng lịch sử vẻ vang dân tộc, từ năm 2026 là tương lai tươi sáng dân tộc. Những thành tựu cách mạng vĩ đại đã có được đều gắn liền với công lao của Đảng, Bác Hồ và sự hy sinh gian khổ vô bờ bến của đồng bào ta. Tương lai phía trước cũng cần phải dựa trên 3 nhân tố đó. Đảng, Bác Hồ tiếp tục soi sáng đường đi lên của cách mạng thông qua chiến lược và tư tưởng đúng đắn, sáng suốt. Vì thế, muốn bước vào kỷ nguyên mới thành công thì trước hết cần phải giữ vững tính kiên định chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là sự chắt lọc tinh túy trí tuệ, hun đúc chí khí cách mạng của cán bộ, đảng viên, nhân dân, là đuốc sáng đưa đường dẫn lối cho dân tộc ta bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu. Năm 2026 là khởi phát chặng đường bứt tốc lịch sử của cả chặng đường quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Từ khi Đảng ta ra đời, lãnh đạo cách mạng cho tới nay, chưa bao giờ thế và lực của cách mạng nước nhà có được như ngày hôm nay, đặc biệt là đường đi tới đã sáng rõ, với các nghị quyết làm trụ đỡ thể chế trong kỷ nguyên mới; với đội ngũ lãnh đạo từ Trung ương tới địa phương có sự chuyển giao thế hệ và sự hài hòa “tre già măng mọc”. Nhưng nếu thiếu sức mạnh nội sinh dân tộc, thì chúng ta sẽ đánh mất thời cơ lịch sử, đồng thời chúng ta cũng sẽ “hụt hơi” khi bứt tốc, tranh tài với bạn bè năm châu.
Theo tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, chúng ta không có thời gian để nói nhiều, chúng ta cần nhiều thời gian để hành động, hiện thực hóa. Điều quan trọng hơn cả là phải tạo được niềm tin và động lực phát triển trong toàn xã hội. Khi người dân tin tưởng, doanh nghiệp tin tưởng, hệ thống vận hành thông suốt, nguồn lực được khơi thông, thì khát vọng phát triển sẽ được chuyển hóa thành sức mạnh thực tế, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
Nếu làm đúng như thế, tin tưởng rằng, chúng ta hoàn toàn có thể hoàn thành thắng lợi mục tiêu tăng trưởng quốc gia “hai con số”, bảo đảm tới năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Nếu làm một phép tính đối sánh lịch sử nhìn lại với thời điểm năm 1986, thì quả thực, Việt Nam đã phát triển đàng hoàng, to đẹp, phồn vinh hơn. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn toàn có quyền tự hào kính dâng lên Bác Hồ muôn vàn kính yêu rằng, con cháu của Người đã hoàn thành trọn vẹn tâm nguyện của Người, xứng danh với truyền thống lịch sử mà tổ tiên, cha ông đã đời nối đời truyền tiếp, xây dựng và bảo vệ cơ đồ dân tộc “sáng ngời một ngọn hải đăng hòa bình”.
PGS.TS Trần Viết Lưu
Nguồn Hà Nội Mới : https://hanoimoi.vn/hoan-thanh-tam-nguyen-bac-ho-dua-dan-toc-toi-dai-vinh-quang-747833.html