Rà soát quy định để tránh chồng chéo
Tán thành với chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là Kết luận số 23 ngày 7/4/2026 của Bộ Chính trị về Đề án nghiên cứu xây dựng chế độ Luật sư công trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nghị quyết số 66 ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, ĐBQH Trần Nhật Minh cũng thống nhất cao với Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp đối với dự thảo Nghị quyết.
ĐBQH Trần Nhật Minh (Nghệ An) phát biểu. Ảnh: Khánh Duy
Từ thực tiễn nghiên cứu hồ sơ, đại biểu đề nghị tiếp tục hoàn thiện một số nội dung để bảo đảm dự thảo khi ban hành có tính đồng bộ, khả thi và phát huy hiệu quả.
Góp ý về Điều 2 liên quan đến giải thích từ ngữ, ĐBQH Trần Nhật Minh cho biết: Theo Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Tư pháp về phạm vi điều chỉnh và phạm vi thí điểm tại Điều 1, dự thảo đã tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lược bỏ doanh nghiệp nhà nước khỏi phạm vi thí điểm nhằm bảo đảm đúng tinh thần Kết luận số 83 của Bộ Chính trị.
Tuy nhiên, tại Điều 2 về giải thích từ ngữ “Luật sư công”, dự thảo vẫn quy định đối tượng là “người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước mà đại diện chủ sở hữu là cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 1”. “Đây có thể là lỗi kỹ thuật trong quá trình hoàn thiện dự thảo, cần được rà soát và loại bỏ để bảo đảm tính thống nhất xuyên suốt giữa các điều khoản”, đại biểu nhấn mạnh.
Liên quan đến khái niệm Luật sư công, đại biểu Trần Nhật Minh cũng lưu ý dự thảo đang quy định: “Luật sư công không bao gồm các viên chức đang thực hiện trợ giúp pháp lý”. Theo đại biểu, cách thể hiện này chưa thật sự hợp lý về mặt kỹ thuật lập pháp.
Bởi lẽ, khoản 2 Điều 6 của dự thảo đã quy định nhiều trường hợp không được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư công như: Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Chấp hành viên… Vì vậy, đại biểu đề nghị chuyển đối tượng trợ giúp viên pháp lý sang nhóm các trường hợp không được cấp chứng chỉ tại Điều 6 để bảo đảm tính hệ thống, tránh để một quy định loại trừ đứng riêng trong phần khái niệm.
Đối với quy định thu hồi chứng chỉ hành nghề, đại biểu cho rằng: Trong 5 trường hợp bị thu hồi chứng chỉ nêu tại dự thảo, chỉ có 1 trường hợp do vi phạm là cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức ngoài khu vực nhà nước.
Các ĐBQH dự phiên thảo luận Tổ
Theo đại biểu, Luật sư công là đối tượng hết sức đặc thù, đòi hỏi tiêu chuẩn rất cao về đạo đức và chuyên môn để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của Nhà nước. Do đó, không chỉ hành vi cung cấp dịch vụ ra bên ngoài, mà tất cả các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại khoản 1 Điều 4 nếu vi phạm cũng cần là căn cứ để thu hồi chứng chỉ.
Đại biểu cho biết, dự thảo đã quy định các hành vi bị nghiêm cấm như: Tiết lộ thông tin vụ việc khi chưa được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền; móc nối, giao dịch với luật sư khác làm trái quy định pháp luật, gây ảnh hưởng quyền lợi Nhà nước; lợi dụng danh nghĩa Luật sư công để trục lợi… Từ đó, đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị sửa điểm c khoản 3 Điều 6 theo hướng: Vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại Điều 4 của Nghị quyết.
Thiết kế cơ chế vận hành linh hoạt, sát thực tiễn
Góp ý về phạm vi công việc của Luật sư công tại Điều 7, ĐBQH Trần Nhật Minh cho rằng: Quy định Luật sư công “tư vấn và tham gia giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài” còn cứng và khó khả thi trong thực tiễn.
Toàn cảnh phiên thảo luận tổ.
Theo đại biểu, tính chất “phức tạp” của một vụ việc thường phát sinh trong quá trình giải quyết, rất khó xác định ngay từ đầu khi thụ lý để mời Luật sư công tham gia. Nếu chờ đến khi vụ việc đã kéo dài mới mời Luật sư công thì đã muộn, làm giảm hiệu quả hỗ trợ pháp lý.
Vì vậy, đại biểu đề nghị quy định theo hướng mở hơn: Luật sư công được tham gia tư vấn và tham gia giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo; còn việc vụ việc nào cần sự tham gia của Luật sư công sẽ do cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại quyết định tùy theo nhu cầu thực tế.
Liên quan đến chế độ, chính sách, đại biểu cho rằng cần thiết kế phù hợp với tính chất công việc kiêm nhiệm của Luật sư công, bảo đảm nguyên tắc khuyến khích đúng mức, gắn trách nhiệm với hiệu quả thực hiện nhiệm vụ và tạo sự công bằng với các nhóm cán bộ, công chức khác.
ĐBQH Trần Nhật Minh cũng đề nghị nghiên cứu cơ chế hỗ trợ theo hướng gắn với từng vụ việc cụ thể, làm đến đâu hưởng đến đó, vừa tạo động lực làm việc, vừa bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn lực ngân sách nhà nước.
Theo ĐBQH Trần Nhật Minh, việc xây dựng chế độ Luật sư công là chủ trương đúng, cần thiết trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuy nhiên, để cơ chế thí điểm phát huy hiệu quả, dự thảo Nghị quyết cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng rõ ràng, thống nhất, công bằng và khả thi trong tổ chức thực hiện.
Diệp Anh