Hoàn thiện mô hình quản trị vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam

Hoàn thiện mô hình quản trị vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam
2 giờ trướcBài gốc
Xác lập nguyên tắc quản lý khu bảo tồn theo giá trị sinh thái
Các định hướng lớn của Đảng trong giai đoạn mới đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế xanh, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học và duy trì cân bằng sinh thái. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam cũng đặt vấn đề xây dựng văn hóa gắn với tôn trọng, bảo vệ môi trường sinh thái.
Các vườn quốc gia và khu bảo tồn là những đơn vị sự nghiệp có tính đặc thù cao, khác biệt với các đơn vị sự nghiệp công lập trong các lĩnh vực khác. Đây là nền tảng của an ninh sinh thái quốc gia, bảo vệ và duy trì rừng tự nhiên, nguồn nước, các hệ sinh thái quan trọng như đất ngập nước, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, sinh cảnh loài đặc hữu, nguy cấp, nguồn gen và các dịch vụ hệ sinh thái thiết yếu, cung cấp và đảm bảo nhu cầu sống còn cho hầu hết hoạt động sản xuất, kinh tế và đời sống nhân dân.
Khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long tại Ninh Bình. Ảnh tư liệu
Nhóm các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam vừa gửi kiến nghị lên Chính phủ và một số bộ, ngành về việc xem xét sắp xếp quản lý hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn biển và đất ngập nước quan trọng trong quá trình tinh gọn đơn vị sự nghiệp công lập.
Cụ thể, các tổ chức này hoan nghênh và ủng hộ chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà Chính phủ đang quyết liệt triển khai. Theo các tổ chức này, đối với hệ thống khu bảo tồn, việc tinh gọn cần được thực hiện trên nền tảng của khoa học bảo tồn, giá trị sinh thái và chức năng lâu dài của từng khu.
Nhóm các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam kiến nghị Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nhanh chóng xây dựng Đề án tổng thể về tổ chức lại việc quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia. Đề án này nên đề xuất phương án sắp xếp đồng bộ, khả thi về pháp lý, tài chính, nhân sự, tài sản công, đất đai, dữ liệu và thẩm quyền quản lý; không triển khai theo hướng thí điểm rời rạc, nhưng cũng không xử lý theo từng đơn vị riêng lẻ.
Cụ thể, cần xác lập nguyên tắc quản lý khu bảo tồn theo giá trị sinh thái, không chỉ theo địa giới hành chính. Các khu liền kề hoặc có kết nối chức năng sinh thái trực tiếp, kể cả nằm ở nhiều tỉnh khác nhau, cần được xem xét hợp nhất hoặc quản lý như một đơn vị bảo tồn thống nhất. Ngược lại, các khu tuy cùng tỉnh nhưng khác biệt lớn về chức năng sinh thái, loài mục tiêu, vùng biển, đất ngập nước hoặc điều kiện quản lý thì không nên sáp nhập.
Tiếp đó, hình thành một đầu mối chuyên trách cấp quốc gia đủ thẩm quyền quản lý trực tiếp hệ thống khu bảo tồn có giá trị quốc gia. Đồng thời, phân định rõ vai trò của trung ương và địa phương.
Chính quyền địa phương vẫn cần tham gia sâu vào quản lý vùng đệm, sinh kế cộng đồng, dịch vụ công, an ninh trật tự, phòng cháy chữa cháy, du lịch và phối hợp xử lý vi phạm. Tuy nhiên, các quyết định cốt lõi liên quan đến mục tiêu bảo tồn, phân khu chức năng, chuyển đổi sử dụng đất, đầu tư hạ tầng, khai thác dịch vụ, cho thuê môi trường rừng, phát triển du lịch trong khu bảo tồn và đánh giá hiệu quả quản lý cần được đặt dưới sự phê duyệt và giám sát của cơ quan trung ương.
Thiết kế cơ chế tài chính quốc gia cho khu bảo tồn
Một kiến nghị đáng chú ý là thiết kế cơ chế tài chính quốc gia cho khu bảo tồn. Theo các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, hệ thống khu bảo tồn là tài sản quan trọng quốc gia. Do đó, đầu tư cho quản lý, bảo vệ hệ thống này cũng là đầu tư cho phát triển, thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Ngân sách trung ương cần bảo đảm các nhiệm vụ cốt lõi như lương, phụ cấp, tuần tra, thiết bị, giám sát đa dạng sinh học, phục hồi sinh thái, nghiên cứu khoa học, phòng cháy, chữa cháy, cứu hộ động vật hoang dã và bảo trì hạ tầng thiết yếu.
Các nguồn thu hợp pháp từ dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái, cho thuê môi trường rừng, tài trợ, viện trợ, nghiên cứu, bồi hoàn đa dạng sinh học hoặc cơ chế tài chính mới cần được ưu tiên quay lại phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi hệ sinh thái và hỗ trợ cộng đồng vùng đệm.
Việc tổ chức lại hệ thống khu bảo tồn quốc gia sẽ liên quan đến nhiều luật và quy định hiện hành về lâm nghiệp, đa dạng sinh học, thủy sản, đất đai, tài sản công, ngân sách nhà nước, viên chức, đơn vị sự nghiệp công lập và phân cấp quản lý giữa trung ương với địa phương.
Vì vậy, theo các tổ chức bảo tồn thiên nhiên Việt Nam, Đề án cần đánh giá rõ các vướng mắc pháp lý và đề xuất văn bản cần sửa đổi, bổ sung; trường hợp cần thiết, có thể trình Chính phủ hoặc Quốc hội ban hành một nghị quyết chuyên đề để thực hiện đồng bộ, kịp thời và đúng thẩm quyền.
Theo các tổ chức bảo tồn, việc sắp xếp hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, cần được thực hiện theo hướng tinh gọn đúng bản chất: giảm phân tán trách nhiệm, thống nhất mục tiêu, tiêu chuẩn, tài chính, nhân lực và giám sát ở cấp quốc gia. Đồng thời, duy trì các ban quản lý tại chỗ đủ năng lực và vai trò phối hợp chặt chẽ của chính quyền địa phương để bảo vệ hiệu quả hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quan trọng và cũng là di sản vô giá của đất nước.
Hà My
Nguồn Thời báo Tài chính : https://thoibaotaichinhvietnam.vn/hoan-thien-mo-hinh-quan-tri-vuon-quoc-gia-va-khu-bao-ton-thien-nhien-tai-viet-nam-198136.html