Khu tưởng niệm Vương triều Mạc (Hải Phòng) được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Ảnh: Tư liệu
Xét về lịch sử, trong 65 năm tồn tại của vương triều Mạc, với tư cách trị vì ở Thăng Long, triều Mạc đã kế thừa hoạt động khuyến học từ các vương triều trước nhưng mang dấu ấn riêng, thể hiện trên hai phương diện, là khuyến học bằng tinh thần và khuyến học bằng vật chất.
Khuyến học bằng tinh thần của vương triều Mạc
Ngay khi tiếp ngôi từ triều Lê sơ vào năm 1527, chỉ hai năm sau, vào năm 1529, triều Mạc đã mở khoa thi Tiến sĩ (thi Hội) đầu tiên của bản triều ở kinh thành Thăng Long, lấy nhân tài bổ sung vào bộ máy nhà nước.
Đây là kỳ tích của vương triều nhà Mạc, bởi trước triều Mạc và sau triều Mạc, không một vương triều nào ở Việt Nam có thể tổ chức thành công một kỳ thi Tiến sĩ mà thời gian nắm quyền chỉ vỏn vẹn hai năm.
Điều chú ý ở chỗ, sau khi thi Hội, lấy đỗ 27 Tiến sĩ của khoa thi này, triều Mạc tổ chức tiếp kỳ thi Đình, chọn ra người đỗ ở ba hạng giáp, là Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân và Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân.
Đích thân vua Mạc Đăng Dung (1527-1529) ra đề văn sách hỏi về đạo trị nước và ban học vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp và Tiến sĩ cho tất cả 27 người tham dự thi Đình.
Văn bia đề danh Tiến sĩ năm 1529 của triều Mạc.
Ngay trong năm đó, triều Mạc lại cho khắc bia đề danh Tiến sĩ của bản triều, dựng trước nhà Thái học, khu Văn miếu Quốc Tử Giám Thăng Long. Đây là văn bia đề danh Tiến sĩ duy nhất của triều Mạc hiện còn dựng tại Văn miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.
Mục đích dựng bia đề danh Tiến sĩ của triều Mạc, giống như triều Lê sơ, là nhằm "phô bày văn giáo" và để "khích lệ nhân tâm, bồi dưỡng sĩ khí", nhưng rất cụ thể, mang phong cách riêng, thể hiện trên bia đề danh Tiến sĩ của triều Mạc: "Sau này các sĩ tử gặp nhau, mắt nhìn vào bia, miệng đọc bia, chẳng ai mà không cảm kích phấn khởi, lấy khoa mục để tự động viên mình, thấy ơn sâu mà gắng sức, nối nhau xuất hiện mà giúp cuộc thái bình thịnh trị muôn thuở cho nước nhà, xây đắp xã tắc muôn năm được bền vững".
Sau đó, triều Mạc cứ đều đặn 3 năm mở một khoa thi Tiến sĩ, kết thúc vào năm 1592, tổng cộng là 22 khoa, lấy đỗ 486 người. Trong mỗi khoa thi Tiến sĩ của triều Mạc thường tổ chức thêm kỳ thi Đình, lấy người đỗ ở cả ba hạng giáp.
Với số người đỗ Tiến sĩ như vậy, kết hợp với số người đỗ Hương cống qua các kỳ thi Hương cũng do triều Mạc tổ chức, trở thành nhân tố quan trọng hình thành Hội Tư văn ở nước ta vào cuối triều Mạc, làm nòng cốt cho hoạt động khuyến học của các triều đại về sau.
Ngoài việc mở các khoa thi Tiến sĩ một cách đều đặn, triều Mạc còn mở thêm khoa thi Đông các. Khoa Đông các được hình thành từ thời Hồng Đức (1460-1497), dùng cho các quan trong triều từ tứ phẩm trở xuống, thi tại điện Vạn Thọ.
Nội dung thi, theo Lê Quý Đôn, "nhà vua ra đầu bài hoặc thơ ngũ ngôn Đường luật, hoặc bài luận phê phán, hoặc phú, tụng, châm, minh, ký, bạt, không có thể thức nhất định. Người đỗ phân làm hạng nhất, hạng nhì và hạng ba bổ vào các chức Đông các đại học sĩ, Học sĩ và Hiệu thư".
Triều Mạc có ba người đỗ khoa Đông các là Trần Bảo, người xã Quan Sơn huyện Thanh Lâm (nay là xã Thái Tân, thành phố Hải Phòng), Đào Tông, người xã Hoàng Xá huyện Bình Hà (nay là phường Ái Quốc, thành phố Hải Phòng) và Ngô Cung, người xã Chi Nê huyện Chương Đức (nay là xã Phú Nghĩa, thành phố Hà Nội).
Người đỗ Tiến sĩ dưới triều Mạc được triều đình tổ chức cho vinh quy bái tổ, không ngoài mục đích nhằm khích lệ Nho sĩ vươn lên trong học tập. Bia đề danh Tiến sĩ của triều Mạc dựng năm 1529 cho biết, sau khi thi Điện (thi Đình), vua Mạc Đăng Dung ngự điện Kính Thiên "sai gọi loa xướng tên người đỗ", và đến "Ngày mồng 7 tháng 3 cho phép vinh quy". Lệ vinh quy của triều Mạc là sự phô phỏng theo lệ vinh quy của triều Lê sơ và được duy trì cho cả triều Mạc.
Cũng vì mến mộ tài năng, người đỗ Tiến sĩ ở triều Mạc được ban quốc tính nhưng chỉ dành cho người đến cộng tác với triều Mạc, ghi nhận ở ông Nguyễn Bỉnh Đức, người phường Thịnh Quang huyện Quảng Đức (nay là phường Đống Đa, thành phố Hà Nội): Vị này đỗ Tiến sĩ năm 1514, đời vua Lê Tương Dực (1509-1516) của triều Lê sơ, sau đó sang làm quan cho triều Mạc, trải các chức Thượng thư, Thiếu phó, kiêm Đông các, tước Liêm Quận công. Vua Mạc cho đổi họ của ông từ họ Nguyễn sang họ Mạc, thành Mạc Bỉnh Đức. Động thái này là nhằm thu hút nhân tài từ phía triều Lê sơ, làm tăng thanh thế cho hoạt động khuyến học của vương triều nhà Mạc.
Nhà bia trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám.
Đối với trường Quốc Tử Giám Thăng Long, triều Mạc thường xuyên quan tâm, cho trùng tu, sửa chữa để trở thành nơi đào tạo nhân tài tốt nhất cho đất nước. Năm Đại Chính thứ 7 (1536), triều Mạc sai Đông quân Đô đốc phủ Tả đô đốc Khiêm Quận công Mạc Đình Khoa đứng ra trùng tu Quốc Tử Giám nhưng chưa rõ là làm những hạng mục nào.
Khuyến học bằng vật chất của triều đình nhà Mạc
Triều Mạc cũng mô phỏng hoạt động này có từ thời Lê sơ. Lý do có thể hiểu là vì: "Đăng Dung [vua Mạc Đăng Dung] sợ lòng người nhớ vua cũ, để lâu lại sinh biến nên phải tuân giữ pháp độ của triều Lê, không dám thay đổi".
Theo đó, nhà Mạc đãi ngộ bằng vật chất cho người đỗ Tiến sĩ của bản triều là cực lớn. Văn bia đề danh Tiến sĩ nêu trên của nhà Mạc cho biết, tất cả 27 người đỗ Tiến sĩ của năm 1529, ngoài việc vinh quy bái tổ, còn được" cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau". Đây là đặc ân mà ngay cả thời Hồng Đức, thời kỳ được coi là thịnh trị nhất của nền giáo dục khoa cử nước nhà cũng chưa có tiền lệ này.
Không chỉ có vậy, người đỗ Tiến sĩ ở triều Mạc được bổ làm quan với tỷ lệ cao để hưởng bổng lộc lớn. Kết quả thống kê cho thấy, trong số 486 người đỗ Tiến sĩ ở triều Mạc, có 477 người được bổ vào các chức vụ khác nhau, chiếm tỷ lệ 98,1%. Tỷ lệ này là cao nhất so với tỷ lệ Tiến sĩ ra làm quan của các triều đại quân chủ Việt Nam còn lại.
Đối với các Tiến sĩ ở triều Lê sơ sang cộng tác với triều Mạc cũng được vương triều Mạc trọng dụng như đối với Tiến sĩ do bản triều đào tạo. Số liệu thống kê cho thấy có 49 người thuộc diện nói trên đều được nhà Mạc bổ dụng vào các chức vụ khác nhau, trong đó có 30 người được trao chức Thượng thư, chức vụ đứng đầu của một bộ đã nói lên điều đó.
*TS Nguyễn Hữu Mùi, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hiện là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long
TS Nguyễn Hữu Mùi*