Khi Israel tuyên bố lập quốc năm 1948, quốc gia Do Thái non trẻ gần như bị bao vây bởi các nước Arab không công nhận tính chính danh của mình, vốn cho rằng sự xuất hiện của một nhà nước Do Thái ở khu vực là sự can dự của phương Tây nhằm chia cắt vùng Trung Đông.
Đại diện Iran xuất hiện tại buổi lễ Quốc khánh Israel năm 1950 sau khi công nhận chính thức Israel. Ảnh: GettyImages/GPO
Trong bối cảnh đó, Thủ tướng đầu tiên David Ben-Gurion theo đuổi chiến lược “liên minh ngoại vi” gồm các quốc gia không có xung đột trực tiếp với Israel, sẵn sàng coi Trung Đông là “bức tranh ghép của các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo” thay vì là vùng đất chỉ của người đạo Hồi.
Sau Thổ Nhĩ Kỳ, Iran là nước Hồi giáo thứ hai công nhận Israel năm 1950. Dưới thời Shah Mohammad Reza Pahlavi, Tehran và Tel Aviv tìm thấy lợi ích chung: cùng lo ngại chủ nghĩa dân tộc Arab và tham vọng khu vực của Iraq.
Quan hệ Iran-Israel sau này phát triển đồng pha với quan hệ Iran-Mỹ. Thập niên 1950, Mỹ phụ thuộc vào các mỏ dầu Trung Đông và Iran là một trong những nhà cung cấp chính. Hầu hết các mỏ dầu lớn của Iran khi đó có người Mỹ đứng sau.
Năm 1953, Thủ tướng dân cử của Iran Mohammad Mossadegh khiến Mỹ nổi giận bởi tuyên bố sẽ quốc hữu hóa các mỏ dầu. Thay vì thỏa hiệp, Mỹ quyết tâm lật đổ ông Mossadegh. CNN cho biết, theo tài liệu chính thức giải mật năm 2013, CIA đã đổ lượng tiền đáng kể vào Iran để khuấy động biểu tình, ủng hộ quân đội Iran tiếm quyền ông Mossadegh và sắp xếp để Shah (quốc vương) Mohammad Reza Pahlavi mở rộng quyền lực.
Dàn hợp xướng biểu diễn tại trường Alliance Israélite ở Tehran, nơi học tập của đông đảo người Do Thái trong thập niên 40-50 của thế kỷ 20. Ảnh: Alliance Israélite Universelle
Kế hoạch thành công, quan hệ Mỹ-Iran nhanh chóng "chạm đỉnh", trở thành tiền đề để Iran và Israel kết thân. Khoảng năm 1955, Israel nhập khẩu 40% nhu cầu dầu mỏ từ Iran. Cơ quan tình báo Mossad của Israel sau đó giúp huấn luyện lực lượng cảnh sát mật Savak của Shah Pahlavi.
Bước qua thập niên 60-70, Israel có nhiều nhà thầu và cố vấn quân sự cư trú tại Tehran. Số liệu của DW cho thấy, Iran từng là nơi có cộng đồng Do Thái lớn thứ hai bên ngoài Israel.
Nhưng, cuộc đảo chính do Mỹ sắp xếp ở Iran có hai mặt. Trong khi bộ phận nhỏ dân chúng ủng hộ Pahlavi coi Mỹ là bạn, nhiều người Iran phản đối sự can dự ngày càng sâu của Washington vào chính sách đối ngoại xa rời thế giới Hồi giáo của Shah Pahlavi.
Trong khủng hoảng suy thoái thập niên 1970, kinh tế Iran suy giảm. Hàng triệu người Iran xuống đường phản đối chế độ quân chủ do Mỹ hậu thuẫn. Năm 1979, Cách mạng Hồi giáo nổ ra trên khắp Iran. Shah Pahlavi bị lật đổ và phải rời bỏ đất nước, mở ra sự khởi đầu mới của nền Cộng hòa Hồi giáo ngày nay.
Biển người Iran đổ xuống đường trong Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Ảnh: GettyImages
Khi chính quyền Cách mạng Hồi giáo do đại giáo chủ Ayatollah Khomeini nắm quyền lực, khác biệt về ý thức hệ đã đảo ngược chính sách đối ngoại của Iran. Ông Khomeini hủy bỏ mọi thỏa thuận hợp tác với Israel, phối hợp cùng các nước Arab khu vực chỉ trích Tel Aviv vì chiếm đóng lãnh thổ của người Palestine.
Năm 1980, vài tháng sau Cách mạng Hồi giáo, chiến tranh Iran-Iraq nổ ra. Dựa trên thực tế là Iran và Israel đều coi Iraq là kẻ thù, muốn ngăn Baghdad sở hữu vũ khí hủy diệt nên hai nước đã có những hợp tác bí mật. Thời điểm ấy, quan hệ giữa Mỹ và Iran tụt dốc mà quân đội Iran chủ yếu sử dụng vũ khí Mỹ (mua giai đoạn 1950-1970), nên họ cần tìm bên cung cấp phụ tùng tương thích. Hai bên bắt đầu hợp tác với việc Israel bán 250 lốp tiêm kích cho Iran.
Tuy nhiên, hợp tác bí mật chỉ giúp hai bên tránh công khai thực hiện các hành động thù địch chống lại bên kia. Khi Israel đưa quân vào miền Nam Lebanon năm 1982, ông Khomeini đã phái Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran đến Beirut của Lebanon hỗ trợ lực lượng dân quân Shiite địa phương (sau này phát triển thành Hezbollah).
Đến lúc "kẻ thù chung" Iraq suy yếu, chiến tranh Iran-Iraq kết thúc, Tehran và Tel Aviv công khai đối đầu. Bên cạnh đó, Palestine dần trở thành vấn đề chung của tất cả người Hồi giáo, còn Iran định hình họ là lãnh đạo của cộng đồng Shiite Trung Đông.
Israel lúc lập quốc là một nhà nước non trẻ cần Iran để trụ vững giữa Trung Đông đầy thù hằn. Nhưng 3 thập kỉ sau, sự khôn ngoan của người Do Thái và hậu thuẫn từ phương Tây biến Israel trở thành cường quốc quân sự với lãnh thổ kiểm soát thực tế mở rộng.
Sau chiến tranh Yom Kippur 1973, không nước Arab láng giềng nào có sức mạnh quân sự-tình báo ngang Israel. Trước áp lực của số đông, Israel còn "quân bài tẩy" là vũ khí hạt nhân - thứ họ chưa công khai, nhưng không phủ nhận.
New York Times cho biết, Chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Israel Ernst David Bergmann năm 1952 mô tả "bom hạt nhân sẽ đảm bảo chúng ta không bao giờ bị dắt như những con cừu đến lò mổ nữa". Israel bắt đầu xây dựng cơ sở phát triển vũ khí hạt nhân năm 1958 gần thị trấn Dimona ở phía Nam. Năm 1967, có thông tin Israel đã chế tạo được đầu nổ hạt nhân và năm 1973, các chuyên gia Mỹ đánh giá Israel có vũ khí hạt nhân hoàn chỉnh, theo New York Times.
Để duy trì khả năng răn đe tuyệt đối, Israel từ lâu coi việc bất cứ nước Arab đối thủ nào khác ở Trung Đông sở hữu vũ khí hạt nhân là mối nguy sống còn và sử dụng mọi phương thức để ngăn đối thủ đạt năng lực hạt nhân giống họ.
Theo DW, giai đoạn 1962-1963, khi có thông tin Ai Cập phát triển tên lửa đạn đạo, tình báo Mossad của Israel đã thực hiện chiến dịch Damocles, theo đó ám sát hoặc tấn công các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực hạt nhân của Ai Cập, bao gồm việc sử dụng bom thư, khiến chương trình vũ khí của Ai Cập đổ bể. Tháng 6/1981, dựa trên thông tin tình báo về khả năng Iraq sắp phát triển được vũ khí hạt nhân, Israel tiến hành chiến dịch Opera, dội bom vào lò phản ứng hạt nhân Osirak của Iraq gần Baghdad, sử dụng máy bay chiến đấu F-15 và F-16 do Mỹ cung cấp, khiến 10 binh sĩ Iraq và một kỹ sư người Pháp thiệt mạng.
Khu vực lò phản ứng Osirak của Iraq sau khi bị Israel ném bom năm 1981. Ảnh: Creative Commons
Mỹ nổi giận vì chiến dịch Opera, nhưng Thủ tướng Israel khi đó là Menachem Begin trả lời trên hãng CBSNews rằng: "Cuộc tấn công này là tiền lệ cho mọi chính phủ tương lai tại Israel. Mọi Thủ tướng Israel sẽ hành động, trong những hoàn cảnh tương tự, theo cách tương tự".
Nói cách khác, ông Begin đặt ra một tiêu chuẩn mới cho các nhà lãnh đạo Israel, đó là nếu cần và có thể tấn công phủ đầu đối thủ thì họ nên lựa chọn. Cuối cùng, cách tiếp cận này trở thành học thuyết Begin và được Israel sử dụng một lần nữa năm 2007, khi tấn công công trình xây dựng lò phản ứng hạt nhân ở Deir ez-Zour của Syria trong chiến dịch Orchard, đánh sập tham vọng hạt nhân của Syria. Sau cuộc tấn công, các thanh sát viên quốc tế đã tìm thấy dấu vết của uranium ở hiện trường.
Với Iran, Israel duy trì cách tiếp cận tương tự. Dù Iran khẳng định chương trình hạt nhân của họ chỉ phục vụ mục đích dân sự, song Israel luôn coi đó là mầm mống nguy hiểm. Khi chương trình hạt nhân của Iran đạt tiến bộ vào đầu thế kỷ 21, Israel được cho là đã bắt đầu các hoạt động nhắm vào Tehran. Tuy nhiên, do năng lực quân sự mạnh mẽ của Iran, Israel chưa thể tự mình thực hiện một cuộc tấn công quân sự phủ đầu.
Từ khoảng năm 2010, Israel bị cáo buộc sử dụng virus Stuxnet xâm nhập mạng máy tính cơ sở hạt nhân Natanz của Iran, làm hỏng 1.000 máy ly tâm làm giàu uranium. Năm 2015, Iran đã kí thỏa thuận hạt nhân với các cường quốc, nhưng Tel Aviv không tin nó ngăn triệt để khả năng Iran theo đuổi vũ khí hủy diệt.
Khói bốc lên ở Tehran sau một cuộc không kích ngày 1/3. Ảnh: Anadolu/GettyImages
Những năm qua, tình báo Israel cũng vướng cáo buộc đứng sau các cuộc ám sát nhắm vào giới tinh hoa và các nhà khoa học hạt nhân hàng đầu Iran. Ví dụ, năm 2012, Israel bị tố kích nổ bom khiến nhà khoa học hạt nhân Iran Mostafa Ahmadi-Roshan thiệt mạng. Năm 2021, Israel bị tố ám sát kiến trúc sư trưởng của chương trình hạt nhân Iran Mohsen Fakhrizadeh. Năm 2020, Iran nghi ngờ Israel đứng sau vụ nổ bí ẩn ở Natanz. Mỗi sự kiện nêu trên đều khoét sâu hơn mối thù hằn giữa hai nước.
Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump nhậm chức nhiệm kỳ hai, sự ủng hộ mạnh mẽ từ Washington trở thành một phần lý do Tel Aviv quyết tâm kích hoạt học thuyết Begin nhằm xóa bỏ chương trình hạt nhân của Iran. Năm ngoái, Israel mở cuộc tấn công quân sự trực tiếp đầu tiên vào Iran, dẫn đến việc Tehran đáp trả mạnh mẽ. Cuộc xung đột kết thúc sau 12 ngày với sự can dự của Mỹ.
Và khi các cuộc đàm phán Iran-Mỹ không đạt kết quả, Tel Aviv và Washington từ ngày 28/2/2026 khởi động chiến dịch quân sự chung chưa từng có nhắm vào Iran. Negar Mortazavi, chuyên gia cấp cao tại Trung tâm Chính sách Quốc tế ở Washington (Mỹ) nói với AlJazeera: “Đây rõ ràng là một cuộc chiến của Israel do Mỹ khởi động. Israel đã vận động Mỹ tấn công Iran suốt hai thập kỷ, và cuối cùng họ đã đạt được mục đích đó”.
Phùng Nguyễn