'Hội đồng Thương mại' có thể là 'van an toàn' cho quan hệ Mỹ - Trung?

'Hội đồng Thương mại' có thể là 'van an toàn' cho quan hệ Mỹ - Trung?
2 giờ trướcBài gốc
Ảnh: Reuters
Sáng kiến này cho thấy sự thay đổi sâu sắc trong cách tiếp cận của Washington: từ việc thúc ép cải cách cơ cấu nền kinh tế Trung Quốc sang đàm phán trực tiếp về các điều kiện thương mại: mỗi bên mua gì, bán gì và với số lượng bao nhiêu.
Đại diện Thương mại Mỹ Jamieson Greer, người lần đầu công bố đề xuất hồi tháng 3 cho biết, cơ chế này sẽ tạo ra một kênh nhằm chính thức hóa các loại hàng hóa được trao đổi giữa hai đối thủ chiến lược. Ông cũng cho biết, đã có các cuộc thảo luận về khả năng thành lập một “Hội đồng Đầu tư” Mỹ - Trung để xử lý các vấn đề liên quan đến đầu tư, chẳng hạn như những rào cản mà các doanh nghiệp gặp phải khi đầu tư vào Mỹ hoặc Trung Quốc.
Gần đây hơn, ông Greer cho biết giới chức Mỹ đã thảo luận ý tưởng này trong cuộc điện đàm với Phó Thủ tướng Trung Quốc Hà Lập Phong hôm 30/4, mô tả đây là công cụ có thể giúp quản lý quan hệ kinh tế song phương.
Các container vận chuyển hàng hóa của Trung Quốc tại cảng Oakland. Ảnh: Reuters
Các cơ chế này có thể được Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình xem xét khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau tại Bắc Kinh trong tuần này - chuyến thăm Trung Quốc đầu tiên của một Tổng thống Mỹ đương nhiệm kể từ chuyến công du cấp nhà nước của ông Trump hồi tháng 11/2017.
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, hai bên có thể nhìn nhận các hội đồng này theo những cách rất khác nhau. Đối với Washington, đề xuất dường như nhằm quản lý thương mại trong các lĩnh vực không nhạy cảm như hàng tiêu dùng và nông nghiệp, trong khi giữ các ngành chiến lược ngoài phạm vi đàm phán.
Ngược lại, với Bắc Kinh, sức hấp dẫn của sáng kiến nằm ở khía cạnh chiến lược hơn: khả năng dự báo lớn hơn, giảm biến động thuế quan và có một kênh song phương riêng mà Trung Quốc tin rằng họ có đủ đòn bẩy để đàm phán với Mỹ trên thế bình đẳng hơn.
Từ yêu cầu cải cách cấu trúc sang mặc cả thương mại
Các nhà phân tích có quan điểm khác nhau về ý nghĩa của các đề xuất đối với Trung Quốc. Với một số người, đây là biểu hiện của sự chấp nhận mang tính thực dụng. Sau nhiều năm quan hệ biến động – với các đợt leo thang thuế quan và hạn chế đầu tư – Bắc Kinh có thể chấp nhận một khuôn khổ thương mại được quản lý chặt chẽ hơn.
Ông Henry Gao, Giáo sư luật thương mại tại Đại học Quản lý Singapore mô tả đây là việc lựa chọn “ít xấu hơn”, kém lý tưởng hơn hệ thống dựa trên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nhưng “vẫn tốt hơn tình trạng bất ổn kéo dài”. “Trung Quốc nhận ra rằng việc quay trở lại một mối quan hệ hoàn toàn bình thường hóa dưới chính quyền Mỹ hiện tại có thể rất khó khăn, ông Gao nói.
Một số chuyên gia khác cho rằng, sự thay đổi này đang có lợi cho Trung Quốc. Dexter Tiff Roberts, chuyên gia cấp cao không thường trú tại Trung tâm Trung Quốc toàn cầu thuộc Atlantic Council gọi đề xuất này là “một chiến thắng lớn” cho Bắc Kinh, khi các mối lo ngại lâu nay của Mỹ về trợ cấp nhà nước và cơ cấu kinh tế Trung Quốc dường như không còn là trọng tâm. Thay vào đó, Washington hiện tập trung vào đàm phán, chuyển từ việc “yêu cầu Trung Quốc thay đổi cấu trúc kinh tế” sang “ngồi xuống cùng nhau quyết định sẽ bán cho nhau những gì và với số lượng bao nhiêu”. Theo ông, đề xuất Hội đồng Thương mại đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ so với chính sách Mỹ trước đây, đồng thời cho thấy Bắc Kinh ngày càng tin rằng mình đang “ngồi ở ghế lái”.
“Van an toàn” mong manh
Các nhà phân tích cảnh báo rằng, bất kỳ cơ chế song phương nào như vậy đều rất mong manh, dựa trên những tiền lệ trước đây. Một cơ chế đối thoại 4 trụ cột từng được thiết lập sau cuộc gặp đầu tiên giữa hai nhà lãnh đạo năm 2017 đã sụp đổ chỉ sau 18 tháng do bị cuộc chiến thương mại lấn át.
Ông Tu cho rằng, các thỏa thuận song phương “không có tính ràng buộc mạnh”, đồng thời lưu ý rằng các thỏa thuận giữa các cường quốc có thể “bị xé bỏ bất cứ lúc nào”.
Cuộc gặp tại Bắc Kinh tuần này diễn ra sau nhiều năm leo thang thuế quan, một thỏa thuận đình chiến tạm thời đạt được tại Busan hồi tháng 10 năm ngoái, và nhiều tháng đàm phán tiếp theo.
Bối cảnh thuế quan cũng đã thay đổi. Tháng 2 vừa qua, Tòa án Tối cao Mỹ ra phán quyết rằng Đạo luật Quyền lực kinh tế khẩn cấp quốc tế không trao quyền cho tổng thống áp thuế, làm suy yếu cơ sở pháp lý của một số mức thuế do ông Trump áp đặt.
Tuy nhiên, mức thuế hiện vẫn ở mức cao. Theo Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ, thuế trung bình của Mỹ đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc hiện khoảng 34%, trong khi mức thuế của Trung Quốc với hàng Mỹ khoảng 31%.
Phạm vi của Hội đồng Thương mại: Nông sản hay đất hiếm?
Mỹ được cho là sẽ thúc đẩy mở rộng tiếp cận thị trường nông sản, bao gồm tăng mua gia cầm, thịt bò và đậu nành. Tuy nhiên, các thỏa thuận như vậy vẫn phụ thuộc lớn vào giá cả và yếu tố chính trị. Thỏa thuận Giai đoạn 1 trước đây, theo đó Trung Quốc cam kết mua thêm 200 tỷ USD hàng hóa Mỹ, cuối cùng không đạt mục tiêu, với tỷ lệ thực hiện chỉ khoảng 58%, theo Viện Peterson. Trung Quốc từ đó đã đa dạng hóa thương mại và ít phụ thuộc hơn vào nông sản Mỹ.
Các thương vụ mua hàng hiện nay, một phần là “đòn bẩy chính trị”. Theo ông Tu, yêu cầu cốt lõi của Trung Quốc không phải là có đi có lại mà là sự bình đẳng.
Các lĩnh vực nhạy cảm hơn, bao gồm chất bán dẫn, công nghệ tiên tiến và đất hiếm – khó có khả năng được đưa vào thỏa thuận.
Wendy Cutler, cựu quan chức thương mại Mỹ và hiện là Phó Chủ tịch cấp cao của Viện Chính sách Asia Society cho biết, hai bên có cách nhìn khác nhau về vai trò của Hội đồng Thương mại.
“Mỹ xem đây là nơi quản lý thương mại trong các lĩnh vực không nhạy cảm, trong khi Bắc Kinh dường như coi đó là công cụ để thúc đẩy can dự và hợp tác”, bà nói.
“Nếu Mỹ sử dụng cơ chế này để giảm thặng dư thương mại lớn mà Trung Quốc có được với Mỹ, thì Bắc Kinh có thể sẽ ít hứng thú hơn”.
“Bài toán khó” hơn mang tên Hội đồng Đầu tư
Nếu Hội đồng Thương mại nhằm quản lý dòng chảy hàng hóa thì Hội đồng Đầu tư sẽ phải đối mặt với câu hỏi nhạy cảm hơn nhiều: liệu doanh nghiệp Trung Quốc có nên được phép xây dựng, mua lại hoặc mở rộng hoạt động sản xuất tại Mỹ hay không.
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào Mỹ đã giảm mạnh. Theo dữ liệu của Rhodium Group, chỉ 2,6% tổng vốn FDI ra nước ngoài của Trung Quốc năm 2025 chảy vào Bắc Mỹ, giảm từ mức 27% cách đây một thập niên. Hãng xe điện BYD được xem là một trong những trường hợp thử nghiệm rõ ràng nhất.
Trong khi ông Trump đôi lúc phát tín hiệu cởi mở với một số khoản đầu tư sản xuất từ Trung Quốc tại Mỹ, đầu tư xe điện Trung Quốc vẫn là vấn đề gây tranh cãi mạnh về chính trị tại Washington.
Ông Tu cho rằng, Mỹ muốn các hoạt động sản xuất mà họ có thể kiểm soát, lấy TSMC làm ví dụ. Có trụ sở tại Hsinchu ở tây bắc Đài Loan, TSMC là nhà sản xuất chip theo hợp đồng lớn nhất thế giới, cung cấp chip tiên tiến cho các tập đoàn công nghệ như Apple, NVIDIA và Qualcomm. Năm ngoái, TSMC công bố mở rộng đầu tư tại Mỹ lên 165 tỷ USD, với kế hoạch xây thêm nhà máy và cơ sở đóng gói tại bang Arizona. “TSMC là kiểu doanh nghiệp mà họ có thể kiểm soát, vì cả chuỗi cung ứng đầu vào lẫn đầu ra đều nằm trong tay Mỹ… Nhưng doanh nghiệp Trung Quốc thì khác. Nhiều công ty Trung Quốc là doanh nghiệp nhà nước hoặc có vốn nhà nước, theo tôi điều đó còn khó hơn nhiều”, ông Tu nói.
“Kiềm chế thiệt hại” hơn là sửa chữa hệ thống
Liệu các hội đồng thương mại hay đầu tư có thực sự giúp ổn định quan hệ giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới hay không vẫn là điều chưa chắc chắn nhưng bản thân việc duy trì liên lạc đã là yếu tố quan trọng.
Bà Wang của Eurasia Group nói: “Đến một thời điểm nào đó, điều này sẽ trở thành bình thường”, đồng thời cho rằng các cuộc đối thoại như vậy “có thể kéo dài hàng thập niên và là yếu tố ổn định rất quan trọng đối với Trung Quốc”.
Theo ông Tu, cơ chế này có thể giúp tạo không khí thuận lợi cho đối thoại cấp lãnh đạo. “Khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau, nếu mỗi ngày đều đang trong một cuộc chiến thương mại thì cảm giác sẽ không dễ chịu chút nào”, ông nói.
Trong khi đó, bà Cutler cảnh báo không nên kỳ vọng quá mức. “Thông thường, việc công bố thành lập các cơ chế dễ hơn nhiều so với đạt được kết quả thực chất tại các hội nghị thượng đỉnh”, bà nhận định.
Các nhà phân tích cho rằng, thay vì tạo ra một “đại thỏa thuận”, các hội đồng này có thể chủ yếu đóng vai trò quản lý bất đồng – giảm yếu tố bất ngờ (chẳng hạn về thuế quan) và ngăn tranh chấp leo thang. Rốt cục, đây là cách để “kiềm chế thiệt hại” hơn là sửa chữa toàn bộ hệ thống.
Dù kết quả của cuộc gặp tuần này ra sao, có một xu hướng rõ ràng là hai quốc gia sẽ phải cùng nhau thiết kế một trật tự thương mại tương lai, và đó là điều chắc chắn phải xảy ra.
Quỳnh Vũ
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/hoi-dong-thuong-mai-co-the-la-van-an-toan-cho-quan-he-my-trung-10416688.html