Hội nghị Trung ương Tám - Mở đường độc lập dân tộc và phát triển đất nước - Bài 2

Hội nghị Trung ương Tám - Mở đường độc lập dân tộc và phát triển đất nước - Bài 2
3 giờ trướcBài gốc
Từ Hội nghị Trung ương Tám (tháng 5/1941) tại lán Khuổi Nặm, Pác Bó, Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh - Việt Minh ra đời, trở thành hình thức tổ chức sáng tạo để tập hợp mọi lực lượng yêu nước dưới ngọn cờ độc lập dân tộc. Không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo hay xu hướng chính trị, Việt Minh đã quy tụ sức mạnh toàn dân, biến khát vọng cứu nước thành phong trào cách mạng giải phóng dân tộc rộng lớn. Từ Cao Bằng, phong trào Việt Minh lan tỏa khắp cả nước, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng, chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Lời hiệu triệu đoàn kết toàn dân cứu nước
Bên lán Khuổi Nặm, qua lời kể xúc động của chị Vi Thị Hồng Thoa, hướng dẫn viên, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, khách tham quan chăm chú lắng nghe câu chuyện về sự ra đời của Mặt trận Việt Minh - ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng sáng lập tại Hội nghị Trung ương Tám. Từ vùng núi biên cương, những hội cứu quốc đầu tiền của Việt Minh được xây dựng đã khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, quy tụ sức mạnh toàn dân dưới mục tiêu cao nhất là giành độc lập cho dân tộc.
Ngay sau khi trở về Tổ quốc tại Pác Bó (ngày 28/1/1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí cán bộ Trung ương trực tiếp mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ cách mạng cơ sở, giảng giải về cách thức tổ chức các hội cứu quốc, giải thích chủ trương, mục đích và điều lệ của Mặt trận Việt Minh. Qua đó, tuyên truyền, giác ngộ, vận động già, trẻ, gái, trai... bản Pác Bó và vùng lân cận tham gia các tổ chức cứu quốc: Hội Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc… Dù bị địch khủng bố, lùng sục gắt gao nhưng đồng bào vẫn một lòng che chở, bảo vệ cán bộ cách mạng. Chỉ trong vòng 3 tháng (2 - 4/1941), thí điểm phong trào Việt Minh đã lan rộng từ Pác Bó ra khắp các châu: Hòa An, Hà Quảng, Nguyên Bình, thu hút đồng bào các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Mông, Dao… hơn 2.000 hội viên tham gia các tổ chức cứu quốc.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào Việt Minh, tháng 4/1941, Người chỉ đạo các đồng chí: Vũ Anh, Hoàng Văn Thụ và Tỉnh ủy Cao Bằng tổ chức Hội nghị ở Goọc Mu (Pác Bó) nhằm đánh giá kết quả thí điểm Việt Minh, rút kinh nghiệm để chuẩn bị phát động phong trào Việt Minh rộng rãi trong phạm vi cả nước. Kết quả công tác thí điểm Việt Minh ở Cao Bằng trở thành cơ sở thực tiễn vững chắc, khẳng định chủ trương của Trung ương Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Mặt trận Việt Minh là đúng đắn, kịp thời, có tác dụng động viên, cổ vũ phong trào cách mạng phát triển đi lên.
Từ ngày 10 - 19/5/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ Tám. Các đại biểu dự Hội nghị đưa ra nhiều quyết định đúng đắn, tầm nhìn chiến lược: đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu; thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, nhằm tập hợp và đoàn kết rộng rãi các giai cấp, dân tộc, tôn giáo, các giới yêu nước vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giải phóng dân tộc.
Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Minh chính thức được thành lập, nêu rõ mục tiêu “tập hợp hết thảy mọi tinh thần độc lập chân chính của giống nòi, kết thành một khối cách mạng vô địch” để đánh đuổi Nhật - Pháp, giành độc lập cho dân tộc. Các tổ chức quần chúng trong Việt Minh đều mang tên “cứu quốc” nhằm tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia phong trào cứu nước.
Sơ đồ con đường xung phong Nam tiến.
Mở đường “Nam tiến”
Sau Hội nghị Trung ương Tám, phong trào Việt Minh ở Cao Bằng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Các châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình trở thành trung tâm cách mạng sôi nổi, có nhiều xã trở thành xã Việt Minh hoàn toàn, với nhiều cán bộ trưởng thành từ phong trào Việt Minh như: Hoàng Sâm, Dương Đại Lâm, Dương Đại Long, Xuân Trường, Hoàng Thế An, Hoàng La Thanh…
Theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, “Phong trào Việt Minh mở rộng tới đâu thì phải tổ chức học tập văn hóa, xóa bỏ nạn mù chữ tới đó, mỗi cán bộ Việt Minh vừa phải là cán bộ chính trị, cán bộ quân sự, vừa phải là giáo viên văn hóa”. Từ chủ trương ấy, phong trào học chữ Quốc ngữ, xóa nạn mù chữ được đẩy mạnh trong quần chúng. Nhiều người sau vài tháng học tập đã biết đọc, biết viết, có người trở thành cán bộ tuyên truyền.
Tháng 6/1941, Trung ương Đảng chỉ thị thành lập Ban Việt Minh lâm thời tỉnh Cao Bằng, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ chiến lược mà Nghị quyết Trung ương Tám đề ra: “Xây dựng một trung tâm căn cứ địa nối liền đường liên lạc với phong trào miền xuôi và đường liên lạc ra quốc tế”. Để thực hiện nhiệm vụ đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao cho nhiều cán bộ Trung ương trực tiếp xuống các địa phương mở lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ và phát triển hội Việt Minh. Đồng chí Võ Nguyên Giáp hoạt động ở Hòa An, đồng chí Lê Thiết Hùng vào Nguyên Bình, đồng chí Cao Hồng Lĩnh phụ trách Hà Quảng… Các lớp huấn luyện cán bộ liên tiếp được mở từ vùng thấp đến vùng cao, vùng đồng bào Mông, Dao. Đặc biệt, trong thời gian này lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp đến Lũng Tàn, Lũng Dẻ (Nguyên Bình) mở lớp huấn luyện chính trị.
Phát triển phong trào Việt Minh thu hút các tầng lớp nhân dân tham gia, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo xuất bản tờ Báo Việt Nam độc lập, ra số đầu tiên ngày 1/8/1941 để tuyên truyền đường lối của Đảng, vận động, giác ngộ nhân dân tham gia các tổ chức cứu quốc.
Từ Báo Việt Nam độc lập đẩy mạnh tuyên truyền, cán bộ cách mạng làm tốt công tác dân vận nên đồng bào các dân tộc Cao Bằng được giác ngộ và tích cực tham gia các tổ chức cứu quốc, phong trào Việt Minh ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. Theo chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, “Từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được”. Tháng 11/1942, Đại hội đại biểu Việt Minh tỉnh Cao Bằng lần thứ nhất họp tại vùng núi Lam Sơn (Hòa An) quyết định đẩy mạnh phong trào Việt Minh trên toàn tỉnh, mở rộng phong trào sang các tỉnh: Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang. Tháng 2/1943, tại Lũng Hoài (Hòa An), Hội nghị liên tịch giữa Tổng bộ Việt Minh, Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng và đại biểu Cứu quốc quân bàn việc mở rộng phong trào “Nam tiến” nhằm tạo tuyến liên lạc từ Cao Bằng phát triển xuống Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang.
Chỉ trong thời gian ngắn, Ban xung phong Nam tiến tổ chức được 19 đội tuyên truyền xung phong, những đội cán bộ Việt Minh, cứu quốc quân theo các hướng “Nam tiến”, “Đông tiến”, “Tây tiến” mở rộng căn cứ địa xuống các tỉnh: Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang… Phong trào cách mạng từ Cao Bằng từng bước liên lạc được với Trung ương Đảng ở miền xuôi và hòa nhập với phong trào cách mạng toàn quốc, tạo nên mạng lưới liên lạc cách mạng rộng khắp, chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Xây dựng lực lượng cách mạng, chớp thời cơ giành chính quyền
Tại Hội nghị Trung ương Tám, cùng với những quyết định quan trọng về hoàn chỉnh sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đối với cách mạng Việt Nam, trong đó chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc giành chính quyền về tay nhân dân, Đảng xác định rõ: sau khi đánh đuổi phát xít Nhật và thực dân Pháp, dân tộc Việt Nam sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ; chính quyền cách mạng không thuộc riêng một giai cấp nào mà là của chung toàn dân tộc.
Sau Hội nghị, việc xây dựng lực lượng vũ trang được xúc tiến khẩn trương tại Cao Bằng. Những đồng chí cốt cán trong các đoàn thể cứu quốc được lựa chọn để tổ chức các đội tự vệ, tự vệ chiến đấu và xây dựng lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu khi thời cơ đến. Công tác đào tạo cán bộ quân sự được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặc biệt chú trọng. Từ năm 1941 - 1944, khoảng 200 thanh niên Cao Bằng được cử đi học quân sự ở nước ngoài.
Từ cuối năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo các đồng chí: Lê Quảng Ba, Lê Thiết Hùng, Hoàng Sâm mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó. Người trực tiếp xây dựng kế hoạch huấn luyện, giảng dạy cách đánh du kích, cách điều tra nắm tình hình địch và phương pháp tổ chức lực lượng cách mạng.
Lễ thành lập Đội du kích Pác Bó (Tranh lịch sử trưng bày tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó).
Tháng 11/1941, theo chỉ thị của Người, Tỉnh ủy Cao Bằng thành lập Đội du kích tập trung đầu tiên, còn gọi là Đội du kích Pác Bó gồm 12 đội viên, do đồng chí Lê Quảng Ba làm đội trưởng. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ, xây dựng cơ sở cho lực lượng tự vệ chiến đấu, tuyên truyền và thực hiện các nhiệm vụ đặc biệt của cách mạng. Sau đó, đội được phân tán về các địa phương để xây dựng phong trào vũ trang quần chúng.
Không chỉ tích cực xây dựng lực lượng, nhân dân các dân tộc Cao Bằng còn tích cực đóng góp sức người, sức của cho cách mạng. Nhiều gia đình tự nguyện mua sắm, cất giấu vũ khí để ủng hộ lực lượng tự vệ và du kích. Tháng 3/1944, Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chọn căn cứ Lam Sơn (Hòa An) xây dựng binh công xưởng do đồng chí Hoàng Đức Thạc, Bí thư Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng chỉ đạo nhằm sửa chữa, sản xuất vũ khí cho các đội tự vệ chiến đấu.
Cùng với xây dựng lực lượng vũ trang, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng còn chỉ đạo triển khai con đường xung phong “Nam tiến” nối liền phong trào Việt Minh từ Cao Bằng xuống miền xuôi và phong trào cách mạng cả nước. Tháng 8/1944, Trung ương Đảng kêu gọi nhân dân “Cầm vũ khí, đuổi thù chung”, không khí chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền sôi sục khắp nơi.
Trong bối cảnh ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới… Phải tìm ra một hình thức thích hợp thì mới có thể đẩy phong trào tiến lên”. Người chỉ đạo thành lập đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (xã Tam Kim), Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập gồm 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân liên tiếp giành thắng lợi tại Phai Khắt và Nà Ngần (25 - 26/12/1944), tạo tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng cả nước chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa.
Từ cuối năm 1944, đặc biệt sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, phong trào Việt Minh phát triển rầm rộ trên toàn quốc. Thời cơ đã đến, ngày 25/3/1945, Việt Minh phát động cao trào kháng Nhật cứu nước; nhiều cuộc biểu tình, mít tinh, bãi công, bãi khóa diễn ra ở nhiều địa phương.
Ngày 14/8/1945, Tổng bộ Việt Minh ra Lời hiệu triệu quốc dân đồng bào đứng lên Tổng khởi nghĩa toàn quốc. Tại Quốc dân Đại hội Tân Trào (Tuyên Quang) ngày 16 - 17/8/1945, Lệnh Tổng khởi nghĩa và 10 chính sách lớn của Việt Minh được thông qua, đồng thời cử Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, chỉ trong vòng hai tuần lễ, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã giành thắng lợi trên phạm vi cả nước. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Bài cuối: Từ lán Khuổi Nặm, Pác Bó - nơi những quyết sách lịch sử soi sáng hôm nay
Trường Hà
Nguồn Cao Bằng : https://baocaobang.vn/hoi-nghi-trung-uong-tam-mo-duong-doc-lap-dan-toc-va-phat-trien-dat-nuoc-bai-2-3188300.html