Hơn 77 tỷ USD cho năng lượng giai đoạn 2026-2030: Huy động thế nào?

Hơn 77 tỷ USD cho năng lượng giai đoạn 2026-2030: Huy động thế nào?
4 giờ trướcBài gốc
Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030
Áp lực vốn chưa từng có cho chuyển dịch năng lượng
Ngày 29/1/2026, tại Hà Nội, Báo Công Thương phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức “Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030”.
Phát biểu tại Diễn đàn, TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, cho biết theo ước tính của Bộ Công Thương, nhu cầu vốn cho ngành năng lượng giai đoạn 2026-2030 lên tới hơn 77 tỷ USD, tương đương trên 15 tỷ USD mỗi năm. Xa hơn, tổng nhu cầu vốn từ nay đến năm 2050 ước khoảng 400 tỷ USD, bình quân 16 tỷ USD/năm.
Riêng với quá trình chuyển đổi năng lượng, TS. Cấn Văn Lực cho rằng tổng vốn đầu tư có thể vượt 135 tỷ USD đến năm 2050, trong đó đầu tư cho nguồn điện khoảng 120 tỷ USD, còn lưới điện truyền tải khoảng 15 tỷ USD. Con số này chưa bao gồm nhu cầu vốn cho lưu trữ năng lượng, số hóa lưới điện, phát triển thị trường điện cạnh tranh và các giải pháp hỗ trợ năng lượng sạch.
Thực tiễn cho thấy, từ năm 2001 đến nay, đầu tư tư nhân và FDI chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư ngành năng lượng, chủ yếu tập trung vào các dự án nguồn điện. Phần còn lại là đầu tư công, tập trung cho lưới truyền tải, hạ tầng chiến lược và các dự án gắn với an ninh năng lượng, bên cạnh một số nguồn tài chính quốc tế.
Một điểm sáng đáng chú ý là tín dụng xanh. Giai đoạn 2017 - tháng 6/2025, tốc độ tăng trưởng tín dụng cho năng lượng tái tạo đạt khoảng 150%/năm, cao gấp nhiều lần mức tăng trưởng bình quân của tín dụng xanh (khoảng 22%/năm). Đến tháng 6/2025, dư nợ tín dụng năng lượng tái tạo đạt gần 290 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 1,7% tổng dư nợ toàn hệ thống tổ chức tín dụng.
Tuy vậy, theo TS. Cấn Văn Lực, con số này vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu vốn khổng lồ của ngành năng lượng trong giai đoạn tới.
Gỡ điểm nghẽn thể chế để khơi thông dòng vốn
Theo TS. Cấn Văn Lực, trong giai đoạn phát triển mới, ngành năng lượng Việt Nam cần tập trung vào ba trụ cột then chốt: nâng cao năng suất, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và đẩy mạnh chuyển dịch sang năng lượng xanh, sạch.
Hiện nay, mỗi năm Việt Nam cần khoảng 15-20 tỷ USD đầu tư cho năng lượng, trong đó phần lớn dành cho sản xuất điện, bên cạnh đầu tư cho lưới điện, truyền tải, phân phối. Đặc biệt, hạ tầng lưu trữ năng lượng đang trở thành yêu cầu cấp thiết khi tỷ trọng điện mặt trời, điện gió ngày càng lớn. Nếu không có giải pháp lưu trữ phù hợp, khả năng hấp thụ và vận hành hệ thống sẽ gặp nhiều rủi ro.
Về cơ cấu vốn, đầu tư nguồn điện chủ yếu dựa vào khu vực tư nhân, trong khi lưới điện do Nhà nước đảm trách – cách tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế, bởi truyền tải điện mang tính độc quyền tự nhiên. Tuy nhiên, quy mô vốn cho lưới điện thời gian tới cũng lên tới hàng chục tỷ USD, đòi hỏi đầu tư công phải đủ mạnh và hiệu quả.
Ngoài đầu tư công và vốn tư nhân, tài chính xanh được xem là kênh không thể thiếu cho chuyển dịch năng lượng. Dù tăng trưởng tín dụng xanh khá tích cực, nhưng quy mô tổng thể vẫn nhỏ, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn dài hạn.
Tương tự, tài chính quốc tế mở ra nhiều cơ hội thông qua các sáng kiến hỗ trợ toàn cầu và các gói chuyển dịch năng lượng công bằng. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn hiện nay là thiếu chương trình và dự án cụ thể, đủ điều kiện để giải ngân. Nhiều đối tác quốc tế sẵn sàng hỗ trợ, song vẫn chờ Việt Nam hoàn thiện danh mục dự án và cơ chế thực hiện rõ ràng.
Hình thức đối tác công - tư (PPP) cũng được kỳ vọng là kênh huy động vốn quan trọng, nhưng số lượng dự án năng lượng triển khai theo mô hình này vẫn còn hạn chế, chủ yếu do vướng mắc về chia sẻ rủi ro, bảo đảm doanh thu và tính ổn định của chính sách.
Đáng lưu ý, thị trường vốn cho năng lượng còn rất khiêm tốn. Trái phiếu và cổ phiếu năng lượng phát triển chậm, quy mô phát hành nhỏ. Nhiều quỹ đầu tư quan tâm, nhưng thiếu các dự án “đủ chuẩn”, minh bạch và ổn định để rót vốn dài hạn.
Một vấn đề nổi cộm được nhiều nhà đầu tư quan tâm là cơ chế bù trừ - thanh toán điện năng. Dù được đánh giá tiến bộ và minh bạch, nhưng đến nay vẫn chưa triển khai được do vướng trần chi phí, thủ tục thanh toán và sự thiếu đồng bộ trong thực thi.
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp còn hạn chế, khiến chính sách ban hành chậm đi vào cuộc sống. Đặc biệt, Việt Nam hiện vẫn chưa có Luật Năng lượng tái tạo riêng, trong khi mục tiêu nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo lên 50%, tiến tới 65% đang được đặt ra. Đây được xem là khoảng trống pháp lý lớn cần sớm được lấp đầy.
Dù Luật Điện lực và Luật Dầu khí đã được sửa đổi, nhưng vẫn cần tiếp tục rà soát để bảo đảm đồng bộ với chiến lược chuyển dịch năng lượng. Cùng với đó, việc giải quyết dứt điểm các vướng mắc của các dự án điện gió, điện mặt trời tồn đọng là yếu tố then chốt để khôi phục niềm tin của nhà đầu tư.
Từ thực tiễn thảo luận, các chuyên gia cho rằng cần kiên định triển khai quy hoạch điện, kể cả khi có điều chỉnh, nhưng phải giữ vững tinh thần xuyên suốt. Đồng thời, thực hiện nghiêm các nghị quyết lớn của Trung ương, phát triển năng lượng theo hướng “kép” – vừa xanh, vừa số hóa.
Một yếu tố then chốt khác là xác định giá điện hợp lý, cạnh tranh và minh bạch, coi đây là “chìa khóa” thu hút đầu tư. Giá điện cần được cập nhật kịp thời theo tín hiệu thị trường, tránh kéo dài mức giá không còn phù hợp.
Song song đó, đầu tư mạnh cho hạ tầng truyền tải, phát triển thị trường giao dịch năng lượng, cho phép sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro giá điện, giá nhiên liệu cũng là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu ngày càng lớn.
Theo TS. Cấn Văn Lực, bài toán tài chính cho phát triển năng lượng không chỉ nằm ở quy mô vốn, mà quan trọng hơn là thiết kế cơ chế ổn định, minh bạch và khả thi, đủ sức thu hút vốn tư nhân, vốn xanh và vốn quốc tế. Nếu không tháo gỡ được các điểm nghẽn thể chế, mục tiêu chuyển dịch năng lượng nhanh và bền vững sẽ rất khó đạt được.
Về dài hạn, tiết kiệm năng lượng và lưu trữ năng lượng cần được xác định là những trụ cột song hành với phát triển nguồn điện, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong giai đoạn mới.
Hải Yến
Nguồn TBNH : https://thoibaonganhang.vn/hon-77-ty-usd-cho-nang-luong-giai-doan-2026-2030-huy-dong-the-nao-177245.html