Cây lúa nơi này không lớn lên trên những cánh đồng phù sa màu mỡ. Nó trụ lại giữa phèn, giữa mặn, giữa mùa nắng hanh hao và những đợt hạn kéo dài, giữa nỗi lo nước mặn có thể tràn vào đồng bất cứ lúc nào. Vậy mà lạ, cây lúa xứ này gan lì như chính con người nơi đây. Đất có chua, có mặn, lúa vẫn trổ bông; người có cực, có nghèo, vẫn giữ lấy mùa.
Nguyên Ủy viên BCH Trung ương Đảng Võ Văn Dũng và Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Hồ Hải trao giải Nhất tại Cuộc thi gạo ngon ĐBSCL lần thứ Nhất.
Tôi từng gặp một lão nông ở Vĩnh Lợi, mái tóc bạc và làn da sạm như rơm cũ. Ông đứng trên bờ ruộng, tay chỉ ra cánh đồng trước mặt, nói mộc mạc: “Đất này hồi xưa dữ lắm… vậy mà ông bà mình vẫn bám đất, bám nước mà trồng cho được cây lúa”. Lời kể giản dị ấy gói trọn một chân lý: Ở Cà Mau, cây lúa không phải là thứ được ban tặng, mà là thành quả của mồ hôi, của nhẫn nại và ý chí không chịu khuất phục đất khó.
Có lẽ vì thấu hiểu tầng sâu ấy mà ông Võ Văn Dũng đã dành nhiều tâm huyết cho ý tưởng xây dựng Bảo tàng Lúa nước. Ông từng là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Nội chính Trung ương, từng có nhiều năm gắn bó với Bạc Liêu trên cương vị Chủ tịch UBND tỉnh và Bí thư Tỉnh ủy. Ở ông có cái trầm tĩnh của người từng đi qua nhiều cương vị, nhưng lại có sự đau đáu rất sâu với văn hóa lúa nước của đất này. Từ mốc chủ trương tại Thông báo 546-TB/TU ngày 23/3/2026, câu chuyện không dừng ở việc dựng một nơi trưng bày hiện vật, mà mở ra thành cả một chỉnh thể: Bảo tàng chuyên đề Lúa nước tỉnh Cà Mau, Biểu tượng tôn vinh Lúa nước và Cung đường di sản. Cách đặt tên bảo tàng gắn với Cà Mau cũng mang một ý rất đậm: đây là vùng đất canh tác lúa nước từ thời khai hoang, đồng thời là điểm cuối nguồn của hành trình lúa nước Việt Nam đi xuống phương Nam.
Cánh đồng sản xuất theo mô hình Lúa - Tôm.
Nếu đồng bằng sông Hồng là nơi khởi nguồn của nền văn minh lúa nước, thì Cà Mau chính là điểm cuối của cuộc mở cõi mang theo hạt lúa. Từ Phong Châu, qua châu thổ sông Hồng, men dọc miền Trung, rồi xuống vùng đất Chín Rồng, cây lúa đã đi cùng dân tộc suốt mấy ngàn năm. Đến tận cùng đất Mũi, nó vẫn bén rễ. Và cũng tại nơi này, người ta muốn dựng lên một không gian để nhìn lại hành trình ấy, như một cách tri ân tiền nhân, tri ân người nông dân và giữ lại phần hồn lúa nước cho mai sau.
Đồng lúa Cà Mau.
Nhà văn Phan Trung Nghĩa thì nhìn câu chuyện bằng trực cảm của người cầm bút. Với anh, dựng Bảo tàng Lúa nước là chưa đủ, mà phải làm sao cho câu chuyện hạt lúa bước ra khỏi bốn bức tường, đi vào cảnh quan, vào trải nghiệm, vào đời sống. Bởi vậy mới có ý tưởng đi tiếp với công trình biều tượng Ba Hạt Lúa, rồi nối dài thành Cung đường di sản. Anh nói nhiều về chuyện biến bảo tàng thành một trung tâm tĩnh, còn biểu tượng Ba Hạt Lúa là trung tâm động, nơi người ta có thể bước tới, chạm vào, nhớ lại và tự nhận ra mình trong đó. Cách nghĩ này làm tôi rất tâm đắc, vì nó giữ cho văn hóa khỏi bị khô, khỏi thành chuyện ngắm rồi thôi.
Và điều làm tôi thích hơn nữa trong cách hình dung của nhà văn Phan Trung Nghĩa là muốn đi xa thêm một bước: dựng khu trải nghiệm nông nghiệp, tức là phục dựng lại một làng lúa nước hơn trăm năm trước ngay trên đất này. Ý tưởng mới nghe qua tưởng như chỉ để làm du lịch, nhưng thiệt ra sâu lắm. Bởi khi một làng lúa nước xưa được dựng lại, người ta sẽ thấy ông bà mình đã sống ra sao, làm ăn ra sao, giữ lấy hạt lúa bằng cách nào giữa đồng chua nước mặn. Sẽ có mái nhà lá, bờ ao, bến nước, chiếc xuồng nhỏ, sân phơi lúa, cái cối xay, cái chày giã gạo, cái chòi giữa đồng. Sẽ có cảnh cày bừa, nhổ mạ, cấy lúa, gặt hái, suốt lúa, phơi lúa, xay giã. Xa hơn nữa là tái hiện cả nhịp sống làng quê thuở trước: tiếng hò vạn cấy, cảnh thả câu giăng lưới, bóng trâu kéo cộ, đập lúa giữa đêm trăng. Ở đó, người ta không chỉ “xem” mà còn “sống lại” một thời, để hiểu ông bà đã giữ hạt lúa giữa đồng chua nước mặn ra sao.
Giống lúa BL9 Cà Mau.
Tôi nghĩ, đây mới là chỗ làm cho Bảo tàng Lúa nước có hồn. Bởi ký ức lúa nước đâu chỉ nằm trong chiếc cày, cây nọc cấy hay vài món nông cụ cũ. Ký ức ấy hiện diện trong cả một không gian sống - trong nhịp lao động, trong hơi người, trong tiếng nói, trong cách ông bà mình dựng nhà, giữ đất, giữ mùa.
Khi một làng lúa nước được phục dựng trọn vẹn, bảo tàng sẽ không còn là không gian tĩnh lặng của hiện vật, mà trở thành nơi ký ức chuyển động. Ở đó, dòng chảy lúa nước hiện ra gần hơn, ấm hơn, thật hơn - như vừa bước ra từ sâu thẳm ký ức của đất phương Nam.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Trần Phước Thuận lại giúp cho mạch suy nghĩ về hồn lúa nước đứng vững trên một cái nền sâu hơn: thuận thiên. Nói gọn vậy thôi, mà trong đó là cả một đạo lý sống. Thuận thiên là biết đất này phèn mặn ra sao, nước nôi lên xuống cỡ nào, mùa nào nên gieo cấy, giống nào nên chọn, cách nào để cây lúa sống được mà đất cũng không kiệt. Cha ông mình đã sống vậy từ lâu rồi. Bởi thế, hồn lúa nước ở Cà Mau nằm ở chỗ biết chịu cực, biết nương theo trời đất, biết liệu đường mà làm ăn.
Những nông cụ trưng bày trong Bảo tàng Lúa nước.
Chính từ cái nền đó, cây lúa Cà Mau bây giờ bước sang một đoạn mới. Không còn là câu chuyện chỉ lo đủ ăn, đủ sống. Giờ bà con bắt đầu nói tới gạo sạch, gạo hữu cơ, gạo sinh thái, lúa phát thải thấp, gạo tốt cho sức khỏe.
Toàn tỉnh hiện có khoảng 315 ngàn héc-ta sản xuất lúa, sản lượng chừng 2 triệu tấn mỗi năm. Riêng mô hình tôm - lúa đã đạt khoảng 94 ngàn héc-ta và còn khả năng mở rộng thêm khoảng 25 ngàn héc-ta ở những vùng đủ điều kiện. Đó là cái nền để Cà Mau làm ra những hạt gạo sạch hơn, an toàn hơn, hợp với xu hướng tiêu dùng xanh.
Từ nền đó, những tên gọi gạo Cà Mau bắt đầu hiện ra rõ nét hơn: Từ Tâm, Ông Muộn, Ông Điền, Một bụi đỏ Hồng Dân, Tài nguyên Vĩnh Lợi, Châu Thới, rồi BL9. Mỗi cái tên là một câu chuyện đất và người. Trong số đó, BL9 làm tôi thấy tự hào nhiều. Nó là giống lúa được chọn tạo, phát triển ngay tại địa phương, là thành quả của một quá trình nghiên cứu bền bỉ để tìm ra giống lúa thơm, chất lượng cao, chịu mặn, hợp vùng tôm - lúa, cho năng suất ổn định. Nói theo cách của người làm nông nghiệp, đó là một giống lúa hiểu đất mình. Mà một khi giống lúa đã hiểu đất, thì bà con mới yên tâm bám ruộng, gạo mới có cơ hội thành thương hiệu. Những bài viết mới về BL9 đều đặt nó như một niềm tự hào khoa học của ngành nông nghiệp Cà Mau, như bước đệm cho chiến lược xây dựng gạo đặc sản vùng cực Nam.
Phối cảnh công trình biểu tượng Ba Hạt Lúa.
Còn gạo Ông Điền lại cho thấy một hướng đi giàu khát vọng khác. Từ phường Láng Tròn, những cánh đồng lúa hữu cơ gắn với thương hiệu này đang mở ra một cách làm mới: giảm lệ thuộc hóa chất, dùng chế phẩm tự nhiên để phục hồi đất, tạo ra hạt gạo lành hơn cho người ăn. Có người nông dân nói với tôi một câu nghe thấm dữ lắm: mình làm sao nấu cơm cho con mình ăn được, thì mới mong bán cho thiên hạ lâu bền được. Câu nói mộc mạc vậy thôi mà nghe ra cả một triết lý làm nông tử tế.
Vì thế, khi Cà Mau tổ chức những cuộc thi gạo ngon, khi nói về bảo tàng, về biểu tượng hay cung đường di sản, đó không phải là những câu chuyện rời rạc. Tất cả đang kết nối thành một dòng chảy - dòng chảy của cây lúa từ quá khứ đến hiện tại, từ gian khó đến khát vọng.
Chính những người nông dân và cây lúa làm nên hồn cốt Cà Mau.
Dòng chảy ấy đi qua bùn lầy mở đất, qua đồng phèn nước mặn, qua những mùa tôm - lúa, qua phòng thí nghiệm chọn giống, qua những cánh đồng hữu cơ hôm nay. Và cuối cùng, nó đổ về một niềm tin giản dị: trên mảnh đất này, hạt gạo không chỉ để no lòng, mà còn mang theo phẩm cách của con người Cà Mau.
Giữ hạt lúa là giữ cội nguồn. Còn dựng lên một bảo tàng, một biểu tượng hay một làng lúa nước giữa trời đất phương Nam, suy cho cùng, là cách để giữ cho phần hồn sâu nhất của đất này còn mãi.
Bài: Nguyễn Hoàng Lê
Ảnh: Nguyễn Thanh Thế - Bùi Thanh Nhàn