Là một nhà điêu khắc nổi tiếng, là người dân tộc thiểu số duy nhất được trao Giải thưởng Nhà nước về Mỹ thuật ngay từ đợt đầu tiên (2001). Ngày 15-4-2008, nhà điêu khắc - nghệ sĩ Hứa Tử Hoài đã đi xa, để lại nỗi tiếc thương vô hạn đối với đồng nghiệp cũng như với công chúng yêu mến mỹ thuật nước nhà.
Từ những ngày đầu thành lập Hội Văn học nghệ thuật (VHNT) tỉnh Bắc Thái (năm 1987), tôi đã quen Hứa Tử Hoài. Anh là người trầm tính và rất kín tiếng, ít giao lưu đến mức hơi thái quá. Tôi chưa thấy anh xuất hiện và đăng đàn ở bất cứ đâu, kể cả những buổi sinh hoạt của Hội và chi hội. Hơn nữa, anh vốn là người không thích khuếch trương tên tuổi, nên hồi ấy văn nghệ sĩ trong tỉnh không mấy người biết đến anh hoặc cũng chỉ coi anh là một họa sĩ tầm tầm.
Phác thảo “Bác Hồ ở ATK Định Hóa”.
Thực ra, ngay từ những năm cuối thập kỉ 70 và những năm đầu của thập kỉ 80 của thế kỉ trước, các tác phẩm của Hứa Tử Hoài đã được nhiều giải thưởng lớn. Nhưng những năm ấy tỉnh Bắc Thái chưa có Hội và phong trào VHNT cũng chưa phát triển nên những thành tích rất đáng giá ấy của anh chưa được quảng bá rộng rãi. Chỉ vào những năm đầu của thập kỉ 90, khi những bức tượng và phù điêu của anh liên tục ra đời, tham dự triển lãm toàn quốc cùng nhiều giải thưởng thì cái tên Hứa Tử Hoài mới thực sự được giới mỹ thuật nói riêng và giới văn học nghệ thuật nói chung ở trong và ngoài tỉnh biết và khâm phục. Với riêng tôi, những tác phẩm được ra mắt trong những năm tháng ấy của anh đã để lại trong lòng tôi sự ngạc nhiên và một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Không hẳn vì đó là những tác phẩm đoạt được giải cao của Hội Mỹ thuật Việt Nam mà còn ở những lí do khác. Thông thường, vào thời kì ấy, các họa sĩ ở Bắc Thái và cả nước thường chỉ nặng ca ngợi một chiều, chứ ít họa sĩ nào động đến nỗi đau, những mất mát... Hứa Tử Hoài hoàn toàn khác. Những con người bé nhỏ, dưới đáy xã hội, những mặt trái, những bi kịch của cuộc đời chính là một trong những đề tài và chủ đề quan trọng trong tác phẩm của anh. Nhiều tác phẩm điêu khắc của Hứa Tử Hoài mà các nhân vật có khi chỉ là những người nông dân lam lũ, mò cua bắt ốc, đánh dậm, đi câu với những khuôn mặt, những vết nhăn khắc khổ hằn lên trong từng thớ gỗ, những con người phải vật vã nhọc nhằn vì miếng cơm, manh áo đã làm nhói bao trái tim người xem. Qua các tác phẩm tượng cũng như phù điêu của Hứa Tử Hoài, tôi nhận ra tư tưởng nghệ thuật của anh rất gần gũi với tư tưởng nhân đạo và triết lí Thiền tông. Đó là những tác phẩm luôn mang tư tưởng lưỡng cực, trong hùng có bi, trong vui có buồn, trong vẻ vang có thương đau, trong đổ vỡ có dựng xây, trong mùa đông có mùa xuân, trong tĩnh có động… và ngược lại.
Nhà điêu khắc Hứa Tử Hoài (1942 - 2008)
Là một người khiêm nhường, Hứa Tử Hoài chưa bao giờ công khai tuyên ngôn nghệ thuật của mình. Nhưng một điều dễ nhận thấy là ngay từ thời kì đầu sáng tác, anh đã định hình một phong cách nghệ thuật rất rõ ràng. Mà điều này thì không nhiều nghệ sĩ có được. Khâm phục và quý mến, từ đó, thỉnh thoảng tôi có đến thăm và trò chuyện với Hứa Tử Hoài.
Nhớ lại lần đầu tiên tới nhà anh, đến đầu phố, tôi hỏi thăm mấy người đàn ông đang đánh cờ bên vỉa hè. Một người ngẩng lên:
- Anh hỏi ông Hoài thợ mộc phải không?
Ông Hoài thợ mộc? Tôi có phần ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra ngay, vì công việc điêu khắc của anh trông bề ngoài cũng không khác nhiều so với mấy ông thợ mộc. Dân phố có lẽ chưa biết thế nào là nhà điêu khắc.
Người đàn ông nhìn tôi với vẻ dò xét, nói thêm:
- Này, tuy là thợ mộc nhưng ông ấy kiêu lắm đấy nhá. Suốt ngày cưa cưa, đục đục ở tận tầng bốn. Thấy tiếng chuông nhà mới ngó xuống, nếu là khách chỉ đến tán gẫu thì stop nhá, không bao giờ được mời vào. Kia kìa… Nhà ông ấy có hai con sư tử đá nằm chầu trước cửa đấy.
Tôi cảm ơn người chỉ đường. Bấm chuông nhà anh mà thấy hơi lo lo. Nhưng thật may mắn, chỉ khoảng năm phút sau thì anh mở cửa, mời tôi vào.
Khi đã trở thành bạn bè thân tình, nhưng mỗi khi đến thăm, thường tôi cũng chỉ được anh “đón tiếp” trên căn phòng nhỏ tít tận tầng 4, dành làm xưởng mỹ thuật. Anh vừa cặm cụi sáng tác hoặc sửa chữa tác phẩm vừa vui vẻ trò chuyện… nhát gừng. Anh là người tiết kiệm từng phút cho sáng tạo như vậy. Tôi biết, chính ở cái xưởng mỹ thuật rộng chưa đầy 20 mét vuông này, nhiều tác phẩm của anh đã đến với công chúng cả nước và quốc tế.
Gần gũi anh, tôi mới biết Hứa Tử Hoài không phải người Thái Nguyên. Anh sinh năm 1942 ở Tràng Định, Lạng Sơn, là người dân tộc Nùng. Sau khi tốt nghiệp Khoa Điêu khắc, Trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội, Hứa Tử Hoài về công tác tại Bảo tàng Việt Bắc (cũ) và từ đó lập nghiệp tại thành phố Thái Nguyên, nơi đã trở thành quê hương thứ hai của anh.
Tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tác phẩm “Soong sly”, một tác phẩm được sáng tác ngay từ thời kì còn khá trẻ của anh nhưng đã sánh vai cùng tác phẩm của các họa sĩ bậc thầy ở Việt Nam, cho thấy Hứa Tử Hoài đã có một vị trí như thế nào trong nền mỹ thuật nước nhà. Nhiều thế hệ khách tham quan Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam mấy ai quên được những bức tượng và phù điêu bằng các chất liệu đồng, gỗ, đá của anh như “Bác Hồ với thiếu niên vùng cao”, “Lễ hội đua voi”, “Phiên chợ vùng cao”… với những kích thước lớn trên vòm, trên tường của Bảo tàng.
Tôi biết, tuy đã thành công với hàng trăm bức tượng và phù điêu, trong đó có cả những tượng đài hoành tráng, nhưng điều mà Hứa Tử Hoài tâm đắc và dành nhiều thời gian, tâm trí, chính là những tác phẩm về số phận con người trong chiến tranh. Những tác phẩm về đề tài này như: “Bi hùng”, “Mạnh hơn bom đạn”, “Ký ức chiến tranh”… đều đoạt giải cao trong các triển lãm mỹ thuật toàn quốc và Hội Mỹ thuật Việt Nam. Đặc biệt, bức “Ác mộng”, đoạt giải nhất của Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 1996, là tác phẩm mà anh có lần đã thổ lộ với tôi bằng vài lời ngắn ngủi: “Đó là sự dồn nén, cô đọng suốt cả cuộc đời nghệ thuật của mình mới có được”.
Diễn tả những mất mát trong chiến tranh, Hứa Tử Hoài thường sử dụng rất hiệu quả những “khoảng rỗng” trên thân tượng. Đó là những khoảng rỗng không lời nhưng chứa đầy ngôn ngữ nghệ thuật. Nói cách khác, Hứa Tử Hoài đã tìm được triết lí cho những “khoảng rỗng” trong nghệ thuật điêu khắc. Ở đấy, hàm chứa một cách sâu sắc những khổ đau và khát vọng, những bi thương và bất khuất, những kiêu hãnh và xót xa, những vinh quang và cay đắng. Đó là tất cả những gì mà dân tộc đã phải trải qua trong cuộc chiến tranh cứu nước đầy gian khổ.
Có lẽ cũng bởi vậy mà hầu hết tác phẩm về đề tài chiến tranh của Hứa Tử Hoài đều mang hơi thở hiện đại, toát lên tinh thần nhân đạo sâu sắc. Khoảng đầu những năm 2000, sau khi dự trại sáng tác Mỹ thuật Vermont Studio Center (VSC) do một tổ chức mỹ thuật có uy tín của Hoa Kỳ tổ chức, Hứa Tử Hoài đã hoàn thành ba tác phẩm “Ký ức chiến tranh”, “Rét” và “Đi câu”. Cả ba tác phẩm có kích thước rất nhỏ nhưng đều nói về những vấn đề lớn của thời đại, đó là lòng yêu hòa bình, là khát vọng xua đi bóng đen của chiến tranh…
Đặc biệt, Hứa Tử Hoài là người rất ngưỡng mộ và kính yêu Bác Hồ. Anh đã dành một thời gian thích đáng để sáng tác tượng và phù điêu về Bác. Từ năm 1990, bức “Bác Hồ về bản” nói về tình cảm nồng ấm, thân thương của Bác với đồng bào vùng cao Việt Bắc đã được tặng Huy chương Vàng trong triển lãm mỹ thuật toàn quốc. Rồi chỉ sau đó ba năm, bức “Bác Hồ với thiếu nhi vùng cao” của anh đã ra đời và được trưng bày trong Bảo tàng Việt Bắc (nay là Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam).
Một phác thảo “Bác Hồ ở ATK Định Hóa” của Nhà điêu khắc Hứa Tử Hoài.
Bẵng đi một thời gian tôi không có dịp tới thăm căn gác xép - nơi có cái “xưởng mỹ thuật” nho nhỏ của Hứa Tử Hoài. Hôm trở lại, thật bất ngờ và xúc động, thấy anh đang gấp rút hoàn thành phác thảo xê ri tượng mà anh tạm đặt tên là “Bác Hồ ở ATK Định Hóa”. Tác phẩm này, đã nhiều lần Hứa Tử Hoài tâm sự với tôi đây là tác phẩm anh đã ấp ủ từ rất lâu, nói đúng hơn đã được manh nha từ thời còn là học sinh cấp III, khi được đọc và học bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu. Hình tượng lãng mạn và sâu sắc về Bác Hồ toát lên từ câu thơ “Nhớ Người những sáng tinh sương/Ung dung yên ngựa trên đường suối reo/Nhớ chân Người bước lên đèo/Người đi, rừng núi trông theo bóng Người” đã như một cảm hứng đầu tiên, thôi thúc anh suốt chặng đường sáng tạo nghệ thuật. Theo dự kiến của anh, toàn bộ tác phẩm sẽ gồm 12 bức, chia làm 2 nhóm, tái hiện hình tượng Bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc. Hứa Tử Hoài cho biết thêm, anh sẽ tập trung tinh hoa và trí lực để làm nổi lên hình tượng Bác Hồ “ung dung trên yên ngựa” trên đường đi họp, đi công tác như trong ý thơ của Tố Hữu. Mỗi bức sẽ là một phong cách nghệ thuật, một triết lý sâu sắc, một tình cảm nồng ấm đối với Bác Hồ.
Ngày tôi đến, phác thảo nhóm tượng đang được hoàn chỉnh những bước cuối cùng. Nghe tôi hỏi về thông điệp của tác phẩm, Hứa Tử Hoài hào hứng nói: “Tôi nghĩ, Bác Hồ ung dung trên yên ngựa chính là hình ảnh đẹp nhất, lãng mạn nhất, điển hình nhất trong những ngày Bác ở ATK Định Hóa. Tuy diễn tả hình ảnh Bác trong chiến tranh nhưng ý tôi lại muốn nói đó chính là một biểu tượng lớn của hòa bình”.
Hứa Tử Hoài hy vọng, khi hoàn thành tác phẩm, anh sẽ xin được trưng bày tại Nhà tưởng niệm Hồ Chí Minh ở Phú Đình (Định Hóa - Thái Nguyên). Đó là món quà tinh thần anh muốn dâng lên Bác Hồ và Thủ đô kháng chiến.
Nhưng rồi vào ngày 15-4-2008, do bạo bệnh, Hứa Tử Hoài đã bất ngờ đi xa. Xê ri tượng về Bác Hồ mới chỉ hoàn thành phác thảo. Từ cái giờ phút định mệnh ấy, căn phòng nhỏ - xưởng mỹ thuật không còn bóng dáng của người nghệ sĩ cặm cụi dành cả cuộc đời cho sáng tạo.
Như mọi nghệ sĩ chân chính, Hứa Tử Hoài đi xa nhưng đã để lại một sự nghiệp lớn. Các tác phẩm của anh chắc chắn sẽ còn mãi với nền nghệ thuật nước nhà. Chỉ có điều đáng tiếc là cụm tác phẩm về Bác Hồ mà anh ấp ủ suốt một đời, mới chỉ hoàn thành phác thảo. Nhưng ai đó đã từng nói, Người nghệ sĩ lớn chính là người cho đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn gửi lại cho đời sau một công việc chưa kịp làm, và những tác phẩm thành công nhất chính là những tác phẩm còn ở phía trước.
HỒ THỦY GIANG