Thí sinh tìm hiểu thông tin tại Ngày hội tư vấn hướng nghiệp 2026. Ảnh: Phương Anh
Trên thực tế, thị trường lao động Việt Nam những năm gần đây vẫn duy trì sự ổn định về quy mô, song cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vấn đề lớn nhất không phải thiếu việc làm, mà là sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu thực tế. Điều này xảy ra ở cả khối kỹ thuật lẫn xã hội, nhưng với khối ngành xã hội, định kiến lại rõ rệt hơn.
Một nguyên nhân khiến ngành xã hội chưa thu hút thí sinh là do nhiều ngành truyền thống như lịch sử, bảo tàng, văn hóa học… có số lượng vị trí việc làm hạn chế, thu nhập chưa cao. Thậm chí, một số ngành từng phải tạm dừng đào tạo do không tuyển đủ sinh viên trong nhiều năm liên tiếp, phản ánh quy luật cung – cầu của thị trường.
Tuy nhiên, nhìn toàn diện, không phải tất cả các ngành xã hội đều thiếu thí sinh. Nhiều lĩnh vực như báo chí, truyền thông, quan hệ công chúng, tâm lý học, quản trị nhân lực… lại có nhu cầu nhân lực ổn định, thậm chí tăng trong bối cảnh kinh tế số.
Minh chứng rõ nét là kết quả kiểm định chất lượng đào tạo tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền. Theo công bố mới nhất, 6 ngành đào tạo gồm Báo chí, Chính trị học, Quan hệ công chúng, Truyền thông đa phương tiện, Truyền thông đại chúng và Xuất bản đạt mức chất lượng 92% theo 11 tiêu chí của Bộ GDĐT. Đáng chú ý, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp của các ngành này đạt từ 80% trở lên, riêng ngành Báo chí lên tới 96,6%.
TS Đinh Tiến Hiếu – Trưởng phòng Đào tạo và Công tác người học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, trong giai đoạn 2024 – 2025, tỷ lệ sinh viên khối ngành xã hội có việc làm sau 12 tháng đạt gần 90%. Nhiều sinh viên không chỉ làm việc trong cơ quan Đảng, Nhà nước mà còn thích ứng tốt trong khu vực doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nước ngoài.
Thực tế tuyển dụng cũng cho thấy các tập đoàn lớn như Samsung, LG ưu tiên tuyển sinh viên có nền tảng xã hội – nhân văn nhờ khả năng ngoại ngữ, hiểu biết văn hóa và kỹ năng giao tiếp. Điều này cho thấy, vấn đề không nằm ở “ngành xã hội không có việc”, mà là sự phân hóa giữa các ngành và giữa chính năng lực của người học. Những ngành gắn với nhu cầu xã hội, có tính ứng dụng cao và được đào tạo bài bản vẫn đảm bảo cơ hội việc làm tốt.
Tuy vậy, cũng cần nhìn thẳng vào thực tế: một số ngành có giá trị học thuật nhưng khó chuyển hóa thành việc làm ngay, khiến người học e dè. Bên cạnh đó, đặc thù của khoa học xã hội và nhân văn là cần thời gian tích lũy kinh nghiệm dài hơn, không dễ đạt thu nhập cao ngay sau khi ra trường. Đây là yếu tố khiến nhiều thí sinh lựa chọn các ngành “thời thượng” như công nghệ thông tin hay kinh tế.
TS Thái Văn Tài – Vụ trưởng Vụ Giáo dục phổ thông (Bộ GDĐT) cho biết, dữ liệu đăng ký thi tốt nghiệp THPT giai đoạn 2020–2025 cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm môn. Các môn khoa học xã hội như Lịch sử, Địa lý có tỷ lệ lựa chọn cao, hơn 60% nhưng điều này không đồng nghĩa với việc tất cả ngành xã hội đều có nhu cầu nhân lực lớn. Một số ngành vẫn phải dừng đào tạo do không còn phù hợp với thị trường.
Theo TS Đinh Ngọc Thắng – Hiệu trưởng Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn (Trường Đại học Vinh), việc đào tạo cần gắn chặt với nhu cầu thực tế. Sinh viên phải được tiếp cận doanh nghiệp từ sớm, tham gia thực tập, trải nghiệm công việc ngay từ năm thứ ba. Nếu chỉ học lý thuyết trong trường, cơ hội việc làm sẽ bị hạn chế.
Bên cạnh đó, các trường cũng đang điều chỉnh chương trình theo hướng liên ngành. TS Đinh Tiến Hiếu cho biết, ngoài kiến thức chuyên môn, nhà trường sẽ tăng cường kỹ năng số, kỹ năng giao tiếp, khả năng thích ứng và ứng dụng AI cho sinh viên. Đây được xem là chìa khóa giúp sinh viên ngành xã hội nâng cao năng lực cạnh tranh.
Một số trường cũng chủ động kết nối doanh nghiệp, mời chuyên gia tham gia giảng dạy, tạo điều kiện cho sinh viên thực tập, làm thêm và thậm chí được tuyển dụng ngay khi còn học. Các chương trình đào tạo mới, gắn với nhu cầu thực tế, đang dần thu hút người học trở lại.
Về phía chính sách, nhiều ý kiến cho rằng nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ đối với những ngành xã hội mang tính chiến lược nhưng ít người học, như hỗ trợ học phí, học bổng hoặc đảm bảo đầu ra. Đây là cách để vừa duy trì các ngành có ý nghĩa lâu dài, vừa tạo động lực cho người học.
Thu Hương