Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là dịp tổng kết một chặng đường phát triển quan trọng, đồng thời là thời điểm bản lề để hoạch định những quyết sách chiến lược, định hình mô hình phát triển và vị thế quốc gia của Việt Nam trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
Từ tổng kết 40 năm Đổi mới đến khát vọng bứt phá
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Đây là kỳ Đại hội diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đứng trước những dấu mốc lịch sử lớn: hướng tới 100 năm thành lập Đảng, 100 năm thành lập nước, và mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Chủ đề Đại hội XIV với 64 chữ: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” - là sự kết tinh cô đọng tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong giai đoạn lịch sử mới.
Sau 40 năm Đổi mới (1986–2026), Việt Nam đã đi qua một chặng đường dài đầy thử thách nhưng cũng rất đỗi tự hào. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đất nước đã vươn lên trở thành nền kinh tế có quy mô lớn trong khu vực.
Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, xếp thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt hơn 5.000 USD, đưa Việt Nam vào nhóm các nước thu nhập trung bình cao, hoàn thành một trong những cột mốc lớn mà Đại hội XIII của Đảng đã đặt ra.
Những con số ấy là minh chứng sinh động cho năng lực phát triển, đồng thời là nền tảng thực tiễn quan trọng để Đại hội XIV hoạch định những quyết sách mang tầm chiến lược dài hạn. Vì vậy, Đại hội XIV không đơn thuần là tổng kết, mà là tổng kết để lựa chọn con đường phát triển ở trình độ cao hơn, với những tư duy đột phá về mô hình tăng trưởng, văn hóa, con người và thể chế.
Một điểm mới nổi bật trong công tác chuẩn bị Đại hội XIV là tư duy hành động sớm, quyết sách sớm, thể hiện rõ tinh thần chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo. GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, cho rằng việc hợp nhất ba văn kiện quan trọng thành một Báo cáo chính trị duy nhất là bước tiến đột phá, phản ánh tư duy lãnh đạo toàn diện, thống nhất và nhất quán.
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cho rằng, đây là kỳ Đại hội diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đứng trước những dấu mốc lịch sử để hoạch định những quyết sách chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sau 40 năm thực hiện quá trình đổi mới. Đồng thời mở ra các cơ hội phát triển của đất nước trong thời gian tới gắn với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, xếp thứ 32 thế giới.
“Đây không chỉ là Đại hội của một nhiệm kỳ mà là Đại hội quyết định tới sự phát triển lâu dài của đất nước. Bởi “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” có thể kéo dài hàng nhiều chục năm. Vì thế mục tiêu được xác định rất rõ ràng, đến năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) trở thành nước đang phát triển công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập Nước), trở thành Nước Xã hội chủ nghĩa phát triển có thu nhập cao. Mục tiêu này cũng đã được xác định ở Đại hội XIII, và bây giờ đến Đại hội XIV thì kế thừa và tiếp tục làm rõ thêm. Đây là đảm bảo sự lãnh đạo nhất quán, nhưng cũng có kế thừa và phát triển” - ông Nguyễn Trọng Phúc khẳng định.
Trước thềm Đại hội, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như Nghị quyết 57, 59, 66, 68, 70, 71..., nhằm cụ thể hóa đường lối của Đảng thành các quyết sách chiến lược, đồng thời tạo điều kiện tháo gỡ sớm các điểm nghẽn về thể chế, chính sách. Cách làm này cho thấy tinh thần không chờ đợi, không trì hoãn, đưa nghị quyết vào cuộc sống ngay sau Đại hội.
Lấy nhân dân làm trung tâm - nền tảng của mọi quyết sách
Từ nền tảng đó, Đại hội XIV hoạch định một chiến lược phát triển toàn diện với những tư duy đột phá, trong đó trọng tâm là xác lập một mô hình tăng trưởng mới về chất, chuyển dịch căn bản, từ việc dựa vào vốn đầu tư, lao động giá rẻ và tài nguyên sang lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Đây là sự lựa chọn mang tính chiến lược, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Song hành với chuyển dịch mô hình tăng trưởng, các dự thảo văn kiện nhấn mạnh vai trò đặc biệt của văn hóa như nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực quan trọng của phát triển bền vững. Nhận thức này xuất phát từ thực tiễn rằng sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng tiềm lực kinh tế, mà còn bởi sức mạnh mềm văn hóa và chất lượng con người.
Trên nền tảng đó, Đại hội XIV khẳng định đầu tư cho con người, cho văn hóa chính là đầu tư cho tương lai, coi đây là trụ cột ngang hàng với kinh tế và chính trị trong chiến lược phát triển tổng thể. Đồng thời, để hiện thực hóa khát vọng của “kỷ nguyên vươn mình”, yêu cầu xây dựng một nền tảng thể chế vững mạnh và hệ thống chính trị trong sạch, hiệu lực, hiệu quả tiếp tục được xác định là nhiệm vụ then chốt, với trọng tâm là tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhằm tạo môi trường phát triển minh bạch, ổn định và bền vững.
Đặc biệt, lần đầu tiên, khái niệm “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được đưa vào chủ đề Đại hội như một khái niệm tư duy chiến lược. “Kỷ nguyên vươn mình” hàm chứa yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, phát triển con người Việt Nam toàn diện, gia tăng sức mạnh mềm văn hóa, đồng thời nâng cao vị thế, uy tín và ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam.
Từ góc nhìn quốc tế, bà Rachel Nguyen Isenschmid, Tổng Thư ký Diễn đàn Kinh tế Thụy Sĩ -Việt Nam, đánh giá, Việt Nam đang chuyển từ “điểm đến đầu tư hấp dẫn” sang đối tác cùng kiến tạo giá trị, nhờ ổn định vĩ mô, cải cách thể chế gắn với chuyển đổi số và nâng cấp quan hệ đối ngoại.
Xuyên suốt các quan điểm chỉ đạo là tư tưởng lấy nhân dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của sự nghiệp đổi mới. Mọi chủ trương, chính sách đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, qua đó củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của đất nước.
Như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết công tác của Chính phủ và chính quyền địa phương ngày 8/1/2026, đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn đòi hỏi phải chuyển mạnh và thực chất từ tư duy “quản lý” sang tư duy “kiến tạo phát triển”, chấm dứt tình trạng đùn đẩy, né tránh, dứt khoát từ bỏ quan niệm “không quản được thì cấm”, để mở ra không gian sáng tạo cho xã hội, cho doanh nghiệp và cho mỗi địa phương. Trong bối cảnh Việt Nam đã hội tụ đủ thế và lực, yêu cầu đặt ra là mỗi quyết sách không chỉ đúng, mà phải kịp thời; không chỉ trúng, mà phải khả thi, nhằm củng cố niềm tin, khơi dậy khát vọng và biến quyết tâm chính trị thành hành động cụ thể.
Chính từ tinh thần đó, Đại hội XIV của Đảng không chỉ như một dấu mốc chính trị quan trọng, mà là thời điểm bản lề của những quyết sách lớn, nơi ý Đảng gặp lòng dân, nơi tầm nhìn chiến lược gắn với hành động quyết liệt, để mở ra một chặng đường phát triển mới - tự tin, tự cường, sáng tạo và bền vững - cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Ông Nguyễn Trọng Phúc.
Nhìn xa, nghĩ sâu và làm lớn
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cho rằng, Đại hội XIV là thời điểm tạo ra những động lực mới của sự phát triển. Để đạt tới mục tiêu đó thì phải tạo ra động lực mới, lực lượng mới, và nguồn lực mới. Nguồn lực của chúng ta bây giờ cũng từ thành quả của 40 năm đổi mới. Như Đại hội XIII cũng đã xác định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Nguồn lực lớn đó được tạo ra bởi quá trình đổi mới, đến bây giờ chúng ta sử dụng nguồn lực ấy để tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Nguồn lực bao gồm nguồn lực trong nước và nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Về động lực mới, theo ông Nguyễn Trọng Phúc, vừa qua Bộ Chính trị đã ban hành 8 Nghị quyết (57, 59, 66, 68, 70, 71, 72, 79). Đấy chính là động lực mới vì 8 Nghị quyết được ban hành là một sự chuẩn bị chu đáo, những yếu tố hội tụ, như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: Chúng ta đã hội tụ cả thế và lực để bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc. Xuyên suốt 8 Nghị quyết là con người và người dân được đặt ở vị trí trung tâm, tất cả vì con người, vì nhân dân, không những tạo ra trong xã hội mà còn tạo ra nguồn lực mới cho sự phát triển, động lực mới cho sự phát triển. Đại hội XIV mở ra kỷ nguyên mới, đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy của người lãnh đạo, cơ quan lãnh đạo. Đó là tư duy chiến lược. Đổi mới trong tư duy là cực kỳ quan trọng. Như Đại hội VI, đổi mới cũng bắt đầu từ đổi mới tư duy, lý luận, nhận thức đúng quy luật, nhận thức đúng thực tiễn. Đến bây giờ cũng thế, quy luật của sự vươn mình dân tộc, quy luật vận động của đất nước. Tư duy lần này là sự: nhìn xa, nghĩ sâu và làm lớn.
Lê Ái- Hoài Vũ