Ông Nguyễn Anh Cương cho biết thêm, Starlink sau khi được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý giá và cạnh tranh như các doanh nghiệp viễn thông khác tham gia thị trường.
Ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, cho biết Công ty TNHH Starlink Services Việt Nam đã được Cục Viễn thông cấp 2 giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng để triển khai thí điểm dịch vụ viễn thông sử dụng công nghệ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp tại Việt Nam, với số lượng thuê bao tối đa trong giai đoạn thí điểm là 600.000 thuê bao (tương đương chỉ khoảng 2,5% tổng số thuê bao băng rộng cố định hiện có tại Việt Nam).
Do đó, dịch vụ vệ tinh tầm thấp ít có khả năng cạnh tranh với các dịch vụ cố định, di động băng rộng mà doanh nghiệp Việt Nam đang cung cấp.
Ông Nguyễn Anh Cương cho biết thêm, Starlink sau khi được cấp phép cung cấp dịch vụ viễn thông tại Việt Nam có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý giá và cạnh tranh như các doanh nghiệp viễn thông khác tham gia thị trường.
Pháp luật về giá bảo đảm nguyên tắc công khai, minh bạch, tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân kinh doanh theo quy định.
Trường hợp doanh nghiệp điều chỉnh giá, đặc biệt là giảm giá có dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan quản lý nhà nước sẽ tăng cường giám sát và áp dụng các quy định pháp luật về giá và cạnh tranh để kịp thời xử lý, bảo đảm các doanh nghiệp hoạt động trên cùng một mặt bằng pháp lý, duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường.
Một nguồn tin cho VietNamNet hay, mức giá dự kiến dịch vụ Internet vệ tinh Starlink khoảng 85 USD/tháng (tương đương khoảng 2,2 triệu đồng) cùng chi phí thiết bị ban đầu khoảng 350 USD, đặt ra câu hỏi lớn về khả năng cạnh tranh của dịch vụ này so với Internet cáp quang và mạng di động vốn đang có chi phí khá thấp tại Việt Nam.
Khác với các dịch vụ Internet truyền thống sử dụng cáp quang hoặc hạ tầng mạng mặt đất, Starlink truyền tín hiệu trực tiếp từ vệ tinh xuống thiết bị thu của người dùng.
Để sử dụng dịch vụ, người dùng cần mua bộ thiết bị đầu cuối gồm chảo thu vệ tinh, router Wi-Fi và bộ nguồn. Theo các thông tin dự kiến cho thị trường Việt Nam, bộ thiết bị này có giá khoảng 350 USD, tương đương khoảng 9 triệu đồng.
Ngoài chi phí thiết bị ban đầu, người dùng phải trả 85 USD mỗi tháng, tương đương khoảng 2,2 triệu đồng mỗi tháng, để duy trì dịch vụ.
Nếu tính tổng chi phí trong năm đầu tiên, gồm thiết bị đầu cuối: 350 USD và phí thuê bao là 1.020 USD/năm, sẽ vào khoảng 1.370 USD, tương đương khoảng 34-35 triệu đồng/năm.
Từ năm thứ hai trở đi, người dùng chỉ cần trả phí thuê bao khoảng 1.020 USD mỗi năm (khoảng 26 triệu đồng). Mức chi phí này cho thấy Internet vệ tinh vẫn là một dịch vụ tương đối đắt so với mặt bằng thu nhập và chi phí viễn thông tại Việt Nam.
Trong nhiều năm qua, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có chi phí Internet thấp trên thế giới. Hạ tầng cáp quang đã được triển khai rộng khắp nhờ các doanh nghiệp viễn thông lớn như Viettel, VNPT và FPT Telecom.
Hiện nay, các gói Internet cáp quang phổ biến có giá khoảng 180.000 – 220.000 đồng/tháng cho gói cơ bản, khoảng 230.000 – 300.000 đồng/tháng cho gói trung bình và khoảng 350.000 – 500.000 đồng/tháng cho gói tốc độ cao.
Với mức giá này, người dùng có thể sử dụng Internet tốc độ từ 150 Mbps đến 1 Gbps, đáp ứng tốt nhu cầu làm việc, học tập và giải trí.
Nếu so sánh trực tiếp, phí dịch vụ 2,2 triệu đồng/tháng của Starlink cao gấp khoảng 7–10 lần so với cáp quang.
Không chỉ Internet cố định, hạ tầng di động tại Việt Nam cũng đã phát triển mạnh trong những năm gần đây. Mạng 4G hiện đã phủ sóng gần như toàn quốc, trong khi 5G đang được triển khai tại các đô thị lớn.
Các gói dữ liệu di động hiện có giá khá thấp, giúp người dùng dễ dàng truy cập Internet mọi lúc, mọi nơi. Điều này khiến Starlink khó có thể cạnh tranh trực tiếp ở các khu vực đô thị, nơi người dùng đã có nhiều lựa chọn kết nối với chi phí hợp lý.
Dù chi phí cao hơn nhiều so với các dịch vụ Internet truyền thống, Starlink vẫn có những lợi thế riêng. Ưu điểm lớn nhất của Internet vệ tinh là không cần hạ tầng cáp quang mặt đất. Người dùng chỉ cần lắp đặt thiết bị thu tín hiệu là có thể truy cập Internet.
Ưu điểm lớn nhất của Internet vệ tinh là không cần hạ tầng cáp quang mặt đất. Người dùng chỉ cần lắp đặt thiết bị thu tín hiệu là có thể truy cập Internet.
Điều này đặc biệt hữu ích tại những khu vực mà việc kéo cáp quang gặp nhiều khó khăn hoặc chi phí quá cao, chẳng hạn như vùng núi hoặc khu vực dân cư thưa thớt, hải đảo xa đất liền, các công trình xây dựng hoặc khai khoáng ở địa điểm hẻo lánh hay tàu biển hoặc hoạt động ngoài khơi.
Trong những trường hợp này, Internet vệ tinh có thể triển khai nhanh hơn nhiều so với việc xây dựng hạ tầng viễn thông truyền thống.
Ngoài ra, Starlink cũng có thể được sử dụng như kết nối Internet dự phòng cho doanh nghiệp. Khi các tuyến cáp quang biển quốc tế gặp sự cố, tốc độ Internet tại Việt Nam có thể bị ảnh hưởng đáng kể.
Trong quá khứ, một số tuyến cáp quang biển lớn như Asia-America Gateway submarine cable hay Asia Pacific Gateway submarine cable từng nhiều lần bị gián đoạn, gây ảnh hưởng đến kết nối quốc tế.
Trong những tình huống như vậy, Internet vệ tinh có thể đóng vai trò bổ sung để duy trì kết nối.
Thái Khang