Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo phát biểu tại phiên họp. (Ảnh: TTXVN)
Nội dung Thông báo số 62-TB/TW ngày 22/5/2026 nêu rõ:
Ngày 14/5/2026, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và định hướng phát triển đất nước 100 năm tiếp theo và Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi là Ban Chỉ đạo) tổ chức Kỳ họp thứ nhất dưới sự chủ trì của đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo. Cùng dự có các đồng chí lãnh đạo chủ chốt, nguyên lãnh đạo chủ chốt, các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, nguyên Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương.
Sau khi nghe báo cáo của cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo và ý kiến phát biểu của các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo kết luận:
1. Việc tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng lãnh đạo phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa rất lớn về lý luận, thực tiễn, chính trị, tư tưởng và tổ chức; là công việc có tầm vóc chiến lược của Đảng và dân tộc nhằm phục vụ việc hoạch định đường lối phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Ban Chỉ đạo ghi nhận, đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc, trách nhiệm của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ Biên tập và các cơ quan liên quan trong việc chuẩn bị tài liệu, dự thảo kế hoạch, quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ và bước đầu xác định những định hướng lớn cho công tác tổng kết.
2. Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam không chỉ là kể lại các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, mà phải chú trọng đánh giá toàn bộ hành trình lịch sử vĩ đại, hết sức vẻ vang nhưng cũng đầy hy sinh, thử thách, gian lao của Đảng và dân tộc ta; phải trả lời được những câu hỏi lớn mang tầm chiến lược, có giá trị định hướng lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổng kết cần làm rõ những nhân tố then chốt giúp Đảng ta lãnh đạo dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử và giành được những thành tựu vĩ đại; đâu là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; những bài học mang tính quy luật cần được kế thừa, đúc rút và phát triển trong giai đoạn mới; những hạn chế, khuyết điểm cần được nhìn thẳng, đánh giá khách quan để sửa chữa, khắc phục; những trụ cột bảo đảm cho sự vững bền của Đảng, sự trường tồn của dân tộc và chế độ; tầm nhìn phát triển đất nước trong 100 năm tới.
Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh không chỉ tổng kết một văn kiện, mà còn tổng kết quá trình hiện thực hóa đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là 10 năm gần đây gắn với 40 năm đổi mới; tiếp tục làm rõ hơn mô hình phát triển của Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận về những mối quan hệ lớn mang tính quy luật trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng hệ luận cứ phục vụ xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
3. Ban Chỉ đạo cơ bản thống nhất với các định hướng lớn do Tổ Biên tập đề xuất, nhất là các nội dung về: Cương lĩnh đầu tiên của Đảng - tầm nhìn xuyên thế kỷ; giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng; phát huy sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; những mối quan hệ lớn và những bài học mang tính quy luật của cách mạng Việt Nam.
Các báo cáo tổng kết phải thể hiện được những thông điệp cốt lõi, xuyên suốt, mang tầm nhìn chiến lược vượt thời đại của Đảng; nâng tầm trở thành một bản tuyên ngôn phát triển của Đảng ta trong kỷ nguyên mới, bảo đảm nội dung có chiều sâu tư tưởng; kết luận có giá trị định hướng, khai mở và thúc đẩy hành động.
4. Về phương pháp tổng kết: (i) Cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn; không xa rời đời sống thực tiễn, không mô tả tản mạn, thiếu khái quát; các nhận định phải có căn cứ thực tiễn, các đề xuất phải dựa trên cơ sở khoa học, dự báo xu thế và yêu cầu phát triển đất nước. (ii) Quá trình tổng kết phải bảo đảm thống nhất giữa tính lịch sử và tính logic, vừa làm rõ quá trình vận động, những bước ngoặt, lựa chọn chiến lược, những hy sinh, nỗ lực, sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta; vừa khái quát được bản chất, các mối quan hệ nhân quả và những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam. Việc tổng kết phải có chiều sâu lịch sử, tầm cao lý luận và sức gợi mở kiến tạo cho tương lai. (iii) Phải gắn chặt với tổng kết ở địa phương, ngành, lĩnh vực; chú trọng tổng kết sâu đối với các địa phương có sự kiện lịch sử tiêu biểu, các phong trào lớn, mô hình đổi mới sáng tạo, các địa bàn chiến lược, lĩnh vực trọng yếu về xây dựng đảng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm có chuyên đề riêng, sản phẩm riêng, tránh hình thức, qua loa.
Đồng ý chủ trương nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, trong đó có kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong tổng kết lịch sử 100 năm, xây dựng nghị quyết lịch sử, tổ chức nghiên cứu lý luận, tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng. Việc nghiên cứu phải bảo đảm tinh thần độc lập, khách quan, cầu thị, chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam; học tập giá trị phương pháp luận, cách tổ chức thực hiện, cách huy động lực lượng nghiên cứu và gắn tổng kết lịch sử với định hướng phát triển; tuyệt đối không rập khuôn, giáo điều, sao chép máy móc.
5. Về tổ chức thực hiện: (i) Ban Chỉ đạo, Tổ Biên tập khẩn trương rà soát, hoàn thiện phân công nhiệm vụ theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ tiến độ; không dàn trải, hình thức; không chồng chéo, bỏ sót những vấn đề quan trọng. (ii) Tổ Biên tập sớm xây dựng, hoàn thiện Đề cương chi tiết các báo cáo tổng kết. Đề cương phải thực sự là "bản thiết kế" của toàn bộ công trình tổng kết; xác định rõ cấu trúc báo cáo, các nội dung trọng tâm, các chuyên đề sâu; phân định rõ những nội dung giao địa phương, bộ, ngành thực hiện; những nội dung cần tổ chức hội thảo khoa học, khảo sát thực tiễn, nghiên cứu chuyên sâu. (iii) Ngay sau Kỳ họp, cần khẩn trương ban hành Quy chế làm việc, Kế hoạch triển khai, Hướng dẫn tổng kết, Bộ khung phương pháp luận chung và cơ chế phối hợp để tổ chức thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống chính trị. Kế hoạch triển khai phải gắn với chương trình làm việc của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các hội nghị Trung ương; xác định rõ tiến độ theo tháng, quý và từng giai đoạn, giai đoạn nước rút thì phải theo tuần, thậm chí theo ngày; bảo đảm mỗi giai đoạn đều có sản phẩm cụ thể để kiểm đếm, đánh giá. (iv) Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương; giữa các ban, bộ, ngành, cơ quan nghiên cứu lý luận với cơ quan hoạch định chính sách, quản lý thực tiễn. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương phát huy vai trò nòng cốt trong nghiên cứu lý luận, phương pháp luận, tổ chức hội thảo, tọa đàm, phản biện khoa học và tham mưu tổng hợp. (v) Rà soát, kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đã có; những vấn đề còn có ý kiến khác nhau để tiếp tục nghiên cứu, trao đổi, những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn phải kịp thời nghiên cứu bổ sung.
6. Quá trình tổng kết cần kết hợp chặt chẽ với công tác tuyên truyền; coi đây là đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Nội dung tuyên truyền phải làm sâu sắc tầm vóc lịch sử vĩ đại của 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam và 40 năm thực hiện Cương lĩnh; khơi dậy niềm tự hào dân tộc, củng cố niềm tin vào Đảng, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tương lai phát triển của đất nước. Công tác tuyên truyền phải được tiến hành với nhiều hình thức sinh động, thuyết phục, phù hợp với từng đối tượng; đồng thời, chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
7. Quá trình tổng kết phải bảo đảm cầu thị, khách quan, khoa học; đánh giá đúng thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; kết hợp chặt chẽ giữa kế thừa và phát triển, giữa tổng kết quá khứ với định hướng tương lai.
Tinh thần chung là khẩn trương nhưng chắc chắn; khoa học nhưng không chậm trễ; dân chủ nhưng có kỷ luật; phân công rõ nhưng phối hợp chặt chẽ; kế thừa nhưng phải bổ sung, phát triển; tổng kết quá khứ để hiểu sâu hiện tại và kiến tạo tương lai.
Các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phát huy cao độ tinh thần trách nhiệm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, bảo đảm tiến độ, chất lượng, góp phần xây dựng thành công công trình tổng kết có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, phục vụ thiết thực công tác hoạch định đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới.