TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam cho rằng doanh nghiệp Việt có thể kết nối với doanh nghiệp FDI thông qua thị trường tài chính và đầu tư gián tiếp. Ảnh: Việt Dũng
Tại Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026 với chủ đề “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, đã đưa ra những phân tích về bức tranh đầu tư giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng chiến lược cho chặng đường 2026 - 2030.
ĐẦU TƯ TƯ NHÂN CHIẾM VỊ THẾ CHỦ ĐẠO TRONG GIAI ĐOẠN 2021 - 2025
Nhìn lại giai đoạn 5 năm vừa qua, TS. Lê Duy Bình cho biết tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 17 triệu tỷ đồng (tương đương 680 tỷ USD). Đáng lưu ý, cơ cấu nguồn vốn đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Trong đó, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 27% tổng nguồn vốn đầu tư. Phần lớn nguồn lực còn lại – chiếm tới 73% – đến từ khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI.
“Khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm vốn đầu tư nước ngoài, đã đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong nền kinh tế của chúng ta”, TS Bình nhấn mạnh.
Đặc biệt, nguồn vốn FDI đã thể hiện sức tăng trưởng vượt bậc khi tăng gấp rưỡi chỉ trong vòng 5 năm, từ 2,9 triệu tỷ đồng lên đến khoảng 4,2 triệu tỷ đồng. Không chỉ dừng lại ở con số đăng ký (khoảng 184 tỷ USD), tỷ lệ giải ngân vốn FDI tại Việt Nam đạt mức rất cao, lên tới 85% (khoảng 158 tỷ USD). Đây là một tỷ lệ đáng khích lệ khi so sánh với các quốc gia khác trong khu vực.
Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026 vinh dự có sự tham dự và phát biểu chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng. Ảnh: Việt Dũng
Nguồn vốn này chủ yếu tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, giúp nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế. Ngoài ra, một phần vốn đáng kể chảy vào bất động sản, nhưng không chỉ dừng lại ở nhà ở mà còn lan tỏa sang các khu du lịch nghỉ dưỡng và hạ tầng khu công nghiệp, tạo tiền đề thu hút thêm các dòng vốn khác.
Đặc biệt, dù dòng vốn đầu tư toàn cầu có dấu hiệu chững lại và suy giảm, song theo TS. Lê Duy Bình, Việt Nam vẫn khẳng định được sức hút mạnh mẽ của mình. Năm 2025, trong khi tổng dòng vốn FDI toàn cầu đạt khoảng 1.600 tỷ USD, Việt Nam đã thu hút được 38 tỷ USD, chiếm khoảng 2,7% thị phần thế giới.
Với kết quả này, Việt Nam nằm trong nhóm 15 nền kinh tế đang phát triển có sức hút FDI lớn nhất. Theo TS. Lê Duy Bình, điều này cho thấy vị trí của Việt Nam trong “con mắt” của các nhà đầu tư nước ngoài vẫn được tiếp tục khẳng định trên bản đồ vốn đầu tư thế giới.
“Đây là nền tảng quan trọng để chúng ta tận dụng các xu thế mới, đặc biệt là xu hướng “đưa sản xuất về gần nhà” (near-shoring) hoặc đến các quốc gia thân thiện (friend-shoring)”, ông Bình khẳng định.
KHÁT VỌNG TĂNG TRƯỞNG VÀ MỤC TIÊU THU HÚT “FDI THẾ HỆ MỚI”
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nhu cầu vốn là cực kỳ khổng lồ, dự kiến cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân và FDI được kỳ vọng sẽ gánh vác tới 80% tổng nhu cầu vốn, trong khi Nhà nước chỉ đảm bảo được khoảng 20%.
Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026 có sự tham dự của đại diện nhiều doanh nghiệp FDI. Ảnh: Việt Dũng
Mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 45 - 50 tỷ USD vốn cam kết và 35 - 40 tỷ USD vốn giải ngân từ khu vực FDI để duy trì đà tăng trưởng. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không chỉ là số lượng mà còn là chất lượng. Việt Nam đang hướng tới việc thu hút “FDI thế hệ mới”.
“Thế hệ mới có nghĩa là nguồn vốn này phải đảm bảo vào những dự án hỗ trợ tăng trưởng xanh, có trách nhiệm xã hội, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam và gia tăng giá trị nội tại cho nền kinh tế”, TS. Lê Duy Bình giải thích rõ hơn về khái niệm này.
Tuy nhiên, dù có số lượng doanh nghiệp FDI lớn, nhưng sự liên kết giữa khu vực này và doanh nghiệp trong nước vẫn còn lỏng lẻo. Hiện cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp, nhưng chỉ có khoảng 5.000 doanh nghiệp kết nối trực tiếp với chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc các tập đoàn đa quốc gia (MNCs).
Đáng báo động hơn, trong số đó chỉ có vỏn vẹn 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1 hoặc cấp 2, và chỉ khoảng 100 doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1 (bán hàng trực tiếp cho các tập đoàn lớn).
Nguyên nhân của sự đứt gãy này nằm ở những yếu tố nội tại của doanh nghiệp Việt. Đó là năng suất của doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ bằng 1/2 so với Thái Lan và 1/4 so với Malaysia; có tới 60 - 70% doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, lỗi thời và năng lực quản trị của doanh nghiệp Việt còn yếu, chưa sẵn sàng để đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của quốc tế.
“Chúng ta không thể chỉ hoàn toàn trông chờ vào thiện chí của các doanh nghiệp FDI hay sự hỗ trợ của Nhà nước. Nỗ lực tự thân của chính các doanh nghiệp trong nước để nâng cao năng lực quản trị và công nghệ là điều hết sức quan trọng”, TS. Lê Duy Bình thẳng thắn nói.
Bên cạnh kết nối về sản xuất, TS. Lê Duy Bình còn gợi mở một hướng đi mới: Kết nối thông qua thị trường tài chính và đầu tư gián tiếp (FII). Việc doanh nghiệp nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt hoặc ngược lại, nhà đầu tư Việt đầu tư vào các doanh nghiệp FDI là một hình thức liên kết chặt chẽ.
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay là số lượng doanh nghiệp FDI niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn rất ít ỏi – chỉ vỏn vẹn 10 doanh nghiệp. Tỷ trọng vốn hóa của các doanh nghiệp này cũng chiếm một phần rất nhỏ bé trong tổng thể thị trường.
Để tăng cường sự gắn kết, TS. Bình kỳ vọng việc kết nối giữa nguồn vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước không chỉ thông qua quan hệ mua bán, sản xuất mà còn phải thông qua hình thức đầu tư gián tiếp, đầu tư chéo lẫn nhau.
Anh Nhi