Từ trái sang phải: TS. Lê Quang Minh, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội; ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa; ông Nguyễn Dương Anh, Phó Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ Thành phố Huế.
Trong khuôn khổ Diễn đàn Cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam – Châu Á 2026 (Vietnam – Asia DX Summit 2026) do Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA) tổ chức ngày 27/5, đã diễn ra phiên đối thoại Tầm nhìn lãnh đạo: thách thức và bài toán tăng trưởng 2 con số.
Theo Đề án 749 về Chương trình chuyển đổi số quốc gia ban hành năm 2020, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2025 kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP. Tuy nhiên, đến cuối năm 2025, quy mô kinh tế số Việt Nam đạt khoảng 72,1 tỷ USD, mới tương đương 14,02% GDP.
Đặt vấn đề tại phiên đối thoại, TS. Lê Quang Minh, Phó Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng đây là mục tiêu rất thách thức, đặc biệt với các địa phương như Khánh Hòa hay Huế, vốn không có thế mạnh về công nghiệp số hay hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn. Vậy dư địa tăng trưởng kinh tế số của các địa phương này nằm ở đâu?
XÂY DỰNG CƠ CHẾ TÀI CHÍNH ĐỂ THÚC ĐẨY HỆ SINH THÁI ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
Trả lời vấn đề này, ông Nguyễn Thanh Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, thẳng thắn nhìn nhận trong nhiều năm, nền tảng để hình thành và phát triển doanh nghiệp công nghệ số tại Khánh Hòa còn khá hạn chế. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này chưa nhiều.
Dù đó, theo ông Hà, việc kinh tế số đã đóng góp hơn 10% GRDP đã là nỗ lực đáng kể nếu nhìn vào quy mô doanh nghiệp hiện có của địa phương.
Thời gian tới, để tăng tỷ trọng kinh tế số trong cấu trúc tăng trưởng của địa phương, lãnh đạo tỉnh Khánh Hòa cho biết tỉnh sẽ thúc đẩy gia tăng số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh tế số, đồng thời nâng cao năng lực và chất lượng của chính các doanh nghiệp này.
Ngoài ra, bên cạnh các chính sách từ Trung ương, tỉnh Khánh Hòa cũng đang chủ động xây dựng các cơ chế riêng để thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo địa phương. Dự kiến trong quý 2 năm nay, Hội đồng Nhân dân tỉnh sẽ ban hành nghị quyết nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo mới.
Theo đó, nhiều cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp sẽ được triển khai, từ hỗ trợ thành lập doanh nghiệp công nghệ đến tạo điều kiện tiếp cận vốn thông qua các quỹ chuyên biệt.
Hiện địa phương cũng đang xúc tiến thành lập Quỹ Khoa học Công nghệ và Quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ hình thành và phát triển. Đây được xem là nền tảng để tạo thêm động lực cho khu vực kinh tế số trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, Tỉnh đang phối hợp với nhiều cơ sở đào tạo lớn như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp địa phương chuyển đổi số, nâng cao năng suất và khả năng thích ứng.
Mỗi năm, tỉnh dự kiến lựa chọn khoảng 50 doanh nghiệp để tham gia các chương trình hỗ trợ chuyên sâu. Mục tiêu không chỉ là tái cấu trúc hoạt động sản xuất mà còn nâng cao giá trị sản phẩm và sức cạnh tranh.
NUÔI DƯỠNG DOANH NGHIỆP ĐỊA PHƯƠNG
Về phía đại diện Huế, ông Nguyễn Dương Anh, Phó Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ Thành phố, cho biết Huế vốn không phải là địa phương có quá nhiều lợi thế vượt trội về công nghệ: “Nhưng muốn làm tốt hơn thì cũng phải chấp nhận thực tế rằng mình từng làm chưa tốt”.
Dẫn lại những khó khăn thực tế của địa phương, ông cho biết Huế thời gian qua chịu tác động lớn từ thiên tai. Có những năm, chi phí khắc phục hậu quả tăng rất cao. Thiên tai không chỉ gây thiệt hại trực tiếp mà còn tác động đến tâm lý người dân, hoạt động doanh nghiệp và cuối cùng ảnh hưởng tới tăng trưởng GRDP của Thành phố.
Vì thế, theo ông, ứng dụng công nghệ, dữ liệu và các nền tảng số không chỉ để tạo ra tăng trưởng mới, mà còn để giúp người dân và doanh nghiệp bảo vệ được những thành quả đã tạo ra.
“Khi doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn, giảm thiểu rủi ro tốt hơn; khi người dân được hỗ trợ tốt hơn trước các biến động, thì đó cũng chính là một phần của tăng trưởng kinh tế”, ông nhận định.
Một vấn đề khác mà Huế nhìn thấy rất rõ là bài toán thu hút doanh nghiệp lớn. Theo ông Nguyễn Dương Anh, việc cạnh tranh để thu hút các tập đoàn lớn về Huế không hề dễ dàng, khi nhiều doanh nghiệp thường ưu tiên những trung tâm phát triển mạnh hơn như Đà Nẵng. Chính vì vậy, Huế lựa chọn một hướng đi khác.
“Thay vì chỉ tập trung thu hút những ‘đại bàng’ từ bên ngoài, chúng tôi muốn xây dựng những ‘đàn chim’ ngay tại địa phương. Chúng tôi nuôi dưỡng, hỗ trợ và tạo điều kiện để chính các doanh nghiệp bản địa lớn lên, tham gia vào quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số của tỉnh", ông Dương Anh chỉ ra.
Trao đổi về những thách thức thực tế mà các địa phương đang đối mặt trong quá trình chuyển đổi số, đại diện Thành phố Huế cho rằng áp lực lớn đầu tiên nằm ở hạ tầng số.
Theo ông, với nhiều địa phương, trong đó có Huế, hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin và chính quyền điện tử đã được xây dựng, vận hành gần 20 năm. Tuy nhiên, kiến trúc hạ tầng được thiết kế từ nhiều năm trước hiện đã dần trở nên lạc hậu, quá tải trước những nhu cầu mới của thời kỳ chuyển đổi số và AI. Vì vậy, việc nâng cấp năng lực hạ tầng đang trở thành một áp lực rất lớn đối với địa phương.
Thách thức tiếp theo đến từ làn sóng bùng nổ của AI, kéo theo yêu cầu ngày càng cao về dữ liệu, năng lực vận hành và quản trị dữ liệu. Bên cạnh đó là bài toán tài chính. “Không địa phương nào có thể ngay lập tức có đủ nguồn lực để làm tất cả những gì cần làm trong chuyển đổi số”, ông thừa nhận.
Dù vậy, trong nhiều năm liên tiếp, Huế vẫn nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ số chuyển đổi số DTI, đồng thời sở hữu nhiều nền tảng và sản phẩm số được cộng đồng đánh giá cao.
Đại diện Huế cho biết về cơ bản, cách làm của địa phương không quá khác biệt so với nhiều nơi khác. Tuy nhiên, lợi thế lớn nhất của Huế nằm ở sự kế thừa liên tục trong suốt quá trình phát triển công nghệ thông tin và chuyển đổi số.
Theo đó, kiến trúc số của địa phương gần như không bị đứt gãy qua các giai đoạn. Các nền tảng, cơ sở dữ liệu và hệ thống điều hành được xây dựng theo hướng xuyên suốt, ổn định và có tính kế thừa cao.
Huế cũng không xem chỉ số DTI là cuộc đua thành tích. Địa phương coi đây là một thước đo phản ánh hiệu quả thực chất của chuyển đổi số. Chỉ số tăng hay giảm không phải điều quan trọng nhất; điều cốt lõi là hệ thống có thực sự phục vụ tốt hơn cho người dân và công tác quản lý hay không.
Một điểm đáng chú ý khác là Huế không phải địa phương có nguồn lực tài chính quá mạnh. Nhưng chính khó khăn đó lại buộc địa phương phải lựa chọn cách làm tập trung, tối ưu tài nguyên bằng mô hình dùng chung hạ tầng và dữ liệu.
Theo cách tiếp cận này, dữ liệu được tập trung về một đầu mối và chia sẻ dùng chung giữa các cơ quan. Ví dụ, dữ liệu đất đai không chỉ phục vụ riêng ngành nông nghiệp mà còn có thể được nhiều lĩnh vực khác cùng khai thác. Tương tự, dữ liệu doanh nghiệp cũng không chỉ thuộc ngành kế hoạch đầu tư mà trở thành tài nguyên chung của toàn hệ thống quản lý.
Ông Nguyễn Dương Anh cho biết Huế từng trải qua giai đoạn “bùng nổ” các phần mềm riêng lẻ vào khoảng năm 2009. Khi đó, mỗi cơ quan đầu tư một hệ thống quản lý văn bản riêng, sử dụng các nhà cung cấp khác nhau. Sau nhiều năm, không ít doanh nghiệp công nghệ ngừng hoạt động, khiến các hệ thống thiếu đơn vị duy trì, dần lạc hậu và rơi vào tình trạng manh mún, đứt gãy.
“Từ bài học đó, Huế quyết định quy hoạch lại toàn bộ theo hướng xây dựng nền tảng dùng chung và tập trung dữ liệu về một chỗ”, ông nói.
Theo đại diện Huế, đây là cách làm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đồng thời cũng có thể trở thành kinh nghiệm tham khảo cho nhiều tỉnh, thành có điều kiện tương đồng trong quá trình chuyển đổi số.
Hạ Chi