Có nước về bản… nhưng chưa hết lo
Ở xã Hướng Lập, một địa bàn vùng biên còn nhiều khó khăn, nước từng là nỗi ám ảnh kéo dài qua nhiều thế hệ. Đường sá cách trở, địa hình đồi núi hiểm trở khiến việc tiếp cận nguồn nước sinh hoạt trở nên gian nan. Trước đây, để có nước dùng, người dân phải đi bộ hàng cây số xuống suối, vào rừng sâu gùi từng can nước về bản.
Cô trò điểm trường Trăng Tà Puồng mang nước về trường phục vụ sinh hoạt - Ảnh: N.B
Sự thay đổi bắt đầu khi các công trình nước sinh hoạt được xây dựng với sự chung tay của lực lượng biên phòng và các nhà hảo tâm. Những bể chứa nước, đường ống dẫn từ suối về bản đã giúp người dân không còn phải “đi gùi nước” mỗi ngày.
Bà Hồ Thị Hóa, ở thôn Cù Bai, xã Hướng Lập, chia sẻ rằng bình thường vào mùa hè, nguồn nước rất trong và sạch, bà con sử dụng thuận lợi cho sinh hoạt. Nhưng chỉ cần vài ngày mưa lớn, nước trở nên đục ngầu, không thể dùng ngay. Khi đó, người dân phải xả bỏ bể, chờ nước trong trở lại hoặc tìm nguồn khác thay thế. “Mấy hôm nay, trời mưa liên tục nên nước thường xuyên bị đục, bà con gặp rất nhiều khó khăn. Phải chờ nước trong trở lại mới dám sử dụng” bà Hóa nói.
Thực tế này cho thấy, dù “có nước”, nhưng chưa thể gọi là “nước sạch” theo đúng nghĩa. Nguồn nước chủ yếu vẫn là nước suối tự chảy, chưa qua xử lý, dễ bị ảnh hưởng bởi thời tiết và môi trường xung quanh. Nỗi lo về nước sạch không chỉ hiện hữu ở khu dân cư mà còn tại các điểm trường vùng cao. Tại điểm trường Trăng Tà Puồng, Trường mầm non Hướng Việt, cô giáo Nguyễn Thị Lan Anh mỗi ngày vẫn phải cùng đồng nghiệp mang từng can nước từ bể tập trung về trường để phục vụ nấu ăn và sinh hoạt cho trẻ. Dù có giếng khoan, nhưng nước bị nhiễm phèn, nhiễm vôi, không thể sử dụng cho ăn uống.
Sử dụng nước không rõ nguồn gốc luôn là nỗi trăn trở của cô trò vùng cao - Ảnh: N.B
Theo cô Lan Anh, nguồn nước đang dùng thực chất chỉ là nước dẫn từ suối, không rõ nguồn gốc cụ thể, chưa qua xử lý. Vì vậy, khi sử dụng, giáo viên luôn trong tâm thế lo lắng. “Chúng tôi dùng vì không còn lựa chọn tốt hơn. Nhưng nếu nói là nước sạch thì không thể khẳng định được,” cô chia sẻ.
Với trẻ mầm non, nhóm đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, nguồn nước không bảo đảm tiềm ẩn nhiều nguy cơ về sức khỏe. Đây cũng là điều khiến các giáo viên và phụ huynh luôn trăn trở.
Cần giải pháp bền vững
Trước những khó khăn của người dân, lực lượng biên phòng đã đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối, kêu gọi nguồn lực xã hội để xây dựng các công trình nước sinh hoạt. Trung tá Nguyễn Tuấn Anh, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Hướng Lập, Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh cho biết, địa bàn đóng quân có địa hình phức tạp, khí hậu khắc nghiệt, đời sống người dân còn nhiều thiếu thốn. Thấu hiểu điều đó, đơn vị đã chủ động vận động các tổ chức, cá nhân cùng chung tay xây dựng các công trình nước phục vụ dân sinh.
“Bà con vùng biên rất cần các công trình nước sạch. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục huy động nguồn lực xây dựng thêm các công trình để người dân có nguồn nước ổn định hơn,” trung tá Nguyễn Tuấn Anh khẳng định.
Công trình nước sinh hoạt do Bộ đội Biên phòng hỗ trợ người dân xã Hướng Lập - Ảnh: N.B
Không chỉ góp phần cải thiện đời sống, những công trình này còn giúp người dân yên tâm bám bản, từ đó cùng lực lượng biên phòng bảo vệ đường biên, cột mốc, giữ vững chủ quyền an ninh biên giới. Tuy nhiên, từ góc độ quản lý, bài toán nước sạch vùng cao không chỉ dừng lại ở các công trình nhỏ lẻ, tự phát.
Ông Đoàn Quang Anh, Phó Chủ tịch UBND xã Đakrông, thẳng thắn nhìn nhận: Người dân sử dụng nước hợp vệ sinh đạt tỉ lệ cao, nhưng nước sạch đúng chuẩn thì rất thấp. Nguyên nhân đến từ điều kiện địa hình chia cắt, thiên tai thường xuyên làm hư hỏng công trình, trong khi nguồn lực đầu tư còn hạn chế.Theo ông Đoàn Quang Anh, địa phương đang định hướng phát triển các giếng khoan kết hợp hệ thống lọc nhằm tạo nguồn nước sạch ổn định hơn, song vẫn cần sự hỗ trợ lớn từ cấp trên.
Trên địa bàn toàn tỉnh, bức tranh nước sạch nông thôn đã có những chuyển biến, nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy. Ông Bùi Thái Nguyên, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Quảng Trị cho biết: Hiện, toàn tỉnh có khoảng 64,3% hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn, nhưng chỉ khoảng 40% được tiếp cận từ công trình cấp nước tập trung. Đáng chú ý, Quảng Trị là địa phương chịu tác động nặng nề của thiên tai. Mưa lũ làm hư hỏng hệ thống cấp nước ở miền núi, trong khi hạn hán và xâm nhập mặn ảnh hưởng đến vùng đồng bằng. Điều này khiến các công trình nhanh xuống cấp, khó duy trì hiệu quả lâu dài.
Người dân vùng cao vẫn vất vả với việc lấy nước hằng ngày - Ảnh: N.B
Thực tế tại các bản làng vùng cao cho thấy, có nước nhưng chưa chắc đã có nước sạch. Những công trình nước sinh hoạt đã mang lại thay đổi rõ rệt, giúp người dân giảm bớt nhọc nhằn. Nhưng để bảo đảm sức khỏe cộng đồng, cần những giải pháp căn cơ hơn: Đầu tư hệ thống lọc, xử lý nước, đầu tư đồng bộ và quản lý bền vững. Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh đang tham mưu xây dựng đề án phát triển nước sạch giai đoạn 2026-2030, ưu tiên các công trình liên vùng, đặc biệt tại khu vực phía Tây, nơi còn nhiều “vùng trắng” nước sạch.
“Chúng tôi đã có danh mục đầu tư cụ thể. Vấn đề quan trọng nhất hiện nay là nguồn lực. Nếu có kinh phí, các công trình có thể triển khai ngay,” ông Bùi Thái Nguyên nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, xã hội hóa được xác định là giải pháp then chốt nhằm giảm áp lực ngân sách và đưa công nghệ mới vào lĩnh vực cấp nước nông thôn, vùng núi. Nước sạch không chỉ là nhu cầu thiết yếu, mà còn là nền tảng cho phát triển kinh tế, giáo dục và nâng cao chất lượng cuộc sống. Với vùng cao, hành trình đưa nước sạch về bản không chỉ là câu chuyện hạ tầng, mà còn đòi hỏi sự quan tâm, trách nhiệm và đồng hành từ nhiều phía. Để vùng cao bớt nỗi lo "khát" nước sạch rất cần thêm nguồn lực, quyết tâm và những chính sách đủ mạnh trong thời gian tới.
Nguyên Bảo