Khi hộ kinh doanh chuyển đổi số

Khi hộ kinh doanh chuyển đổi số
3 giờ trướcBài gốc
Cán bộ thuế hướng dẫn hỗ trợ hộ kinh doanh
Kê khai thuế thuận tiện hơn
Sau một thời gian ngắn chuyển đổi mô hình quản lý từ thuế khoán sang kê khai thuế, cơ sở kinh doanh vật tư thiết bị văn phòng Phương Liên đã khá thông thạo với quy trình bán hàng mới. Thay vì chỉ quản lý bán hàng theo hình thức ghi chép sổ sách thủ công, cuối tháng mới tổng hợp doanh thu, cơ sở kinh doanh này đã áp dụng phần mềm bán hàng, xuất hóa đơn từ máy tính tiền. Việc áp dụng công nghệ vào hoạt động kinh doanh không chỉ giảm bớt áp lực tính toán, rà soát tồn kho mà còn giúp cơ sở nắm rõ dòng tiền, hàng hóa theo từng ngày, từng giờ.
Bà Đặng Thị Quỳnh Anh, chủ HKD Phương Liên chia sẻ, khi áp dụng hệ thống phần mềm, ban đầu, chúng tôi gặp nhiều khó khăn và sai sót. Tuy nhiên sau một thời gian sử dụng với sự đồng hành của đơn vị cung cấp giải pháp, cơ quan thuế, việc chuyển đổi đã suôn sẻ hơn. Quan trọng là mình cũng cố gắng làm quen dần với công nghệ, cách thức kinh doanh mới. Nhờ áp dụng phần mềm bán hàng và xuất hóa đơn điện tử, mọi giao dịch được ghi nhận tức thì, doanh thu, hàng tồn kho, công nợ đều hiển thị rõ ràng, kê khai thuế vì thế cũng dễ dàng hơn.
Việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong hoạt động kinh doanh của HKD là một trong những chiến lược quan trọng được ngành thuế triển khai nhằm góp phần tạo nên sự minh bạch trong việc kê khai nộp thuế. Đó là lý do khi triển khai chiến dịch “45 ngày chuyển đổi mô hình quản lý thuế từ thuế khoán sang kê khai thuế” đối với HKD, Thuế thành phố không chỉ tập trung hỗ trợ chuyển đổi từ phương pháp quản lý thuế mà còn tập trung nâng cao năng lực cho HKD, hỗ trợ HKD ứng dụng công nghệ trong quản lý, vận hành.
Hỗ trợ chuyển đổi số
Hiện, Thuế thành phố đang tăng cường kết nối với các ngân hàng, đơn vị cung cấp phần mềm bán hàng để tích hợp dữ liệu, tạo hệ sinh thái đồng bộ, giúp HKD vừa thực hiện nghĩa vụ thuế, vừa nâng cao năng lực quản trị. Trọng tâm của hoạt động này không chỉ là thay đổi công cụ, mà là thay đổi nhận thức để chuyển đổi số trở thành động lực phát triển. Kết quả chỉ sau 45 ngày triển khai chiến dịch, Thuế thành phố đã hoàn thành hỗ trợ, hướng dẫn chuyển đổi mô hình quản lý thuế cho 100% HKD đang hoạt động có mức doanh thu theo dõi trong năm 2025 từ 500 triệu đồng trở lên; 94% HKD đã cài đặt và sử dụng eTax Mobile. Ngoài ra, từ đầu năm 2025, Thuế thành phố Huế đã hỗ trợ chuyển đổi và đăng ký hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền cho 230 HKD có doanh thu từ 1 tỷ đồng trở lên.
Trong năm 2026, ngoài thực hiện các nhiệm vụ thu và quản lý thuế nói chung, Thuế thành phố còn tăng cường quản lý thuế đối với HKD, phấn đấu 100% HKD, cá nhân kinh doanh thuộc diện áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền theo quy định, thực hiện sổ sách kế toán được kết nối, hỗ trợ với ít nhất một nhà cung cấp giải pháp công nghệ; 95% HKD thuộc diện quản lý thuế cài đặt và sử dụng ứng dụng eTax Mobile để tra cứu thông tin, kê khai và nộp thuế.
Theo ông Đoàn Vĩ Tuyến, Trưởng Thuế thành phố, ngoài công tác tuyên truyền, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để HKD tuân thủ pháp luật thuế, Thuế thành phố triển khai nhiều giải pháp khuyến khích HKD tham gia chuyển đổi số, sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền. Thuế thành phố sẽ tăng cường rà soát, thống kê số lượng HKD đã sử dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; phối hợp với các nhà cung cấp giải pháp để có chính sách ưu đãi, hỗ trợ chi phí ban đầu cho các HKD. Cùng với đó sẽ đổi mới nội dung và hình thức của chương trình “Hóa đơn may mắn” theo hướng tăng tính hấp dẫn, đa dạng hình thức nhằm tạo động lực để HKD sử dụng hóa đơn điện tử trong hoạt động kinh doanh...
Thuế thành phố cũng tạo thuận lợi tối đa, giúp người nộp thuế giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính tuân thủ tự nguyện, giám sát chặt chẽ hồ sơ khai thuế trong kỳ đầu tiên; chủ động thông báo, hướng dẫn và hỗ trợ HKD rà soát, kiểm tra và xác nhận thông tin kê khai, bảo đảm giúp người nộp thuế dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ tuân thủ.
Tuấn Anh
Nguồn Thừa Thiên Huế : https://huengaynay.vn/kinh-te/khi-ho-kinh-doanh-chuyen-doi-so-163171.html