Đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng)
Thưa bà, Dự thảo Nghị định quy định, thiệt hại do hành vi lãng phí gây ra để xác định trách nhiệm bồi thường là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền và có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Theo bà, quy định này có ý nghĩa như thế nào trong việc hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý lãng phí hiện nay?
Tôi cho rằng Dự thảo Nghị định lần này có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó tác động trực tiếp đến một trong những “điểm yếu” lớn nhất của công tác phòng, chống lãng phí trong nhiều năm qua, đó là việc xác định trách nhiệm cá nhân đối với các hành vi gây lãng phí còn gặp nhiều khó khăn.
Thực tế cho thấy, trong công tác phòng, chống tham nhũng, việc xác định thiệt hại có phần thuận lợi hơn vì phần lớn các hành vi đều gắn với dòng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất bị chiếm đoạt. Trong khi đó, lãng phí thường diễn ra dưới nhiều hình thức phức tạp hơn như đầu tư dàn trải, dự án chậm tiến độ, công trình xây dựng nhưng khai thác kém hiệu quả, tài sản công sử dụng không hết công năng hoặc để xuống cấp theo thời gian. Những trường hợp này gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước và xã hội nhưng việc lượng hóa thiệt hại và quy trách nhiệm cụ thể lại không hề đơn giản.
Do đó, việc Dự thảo quy định thiệt hại phải là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền và có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi vi phạm là bước tiến quan trọng về mặt pháp lý. Quy định này giúp chuyển từ cách tiếp cận mang tính định tính sang định lượng, tạo cơ sở rõ ràng hơn cho việc xem xét trách nhiệm bồi thường cũng như áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật tương ứng.
Theo Dự thảo Nghị định, một trong những căn cứ để xem xét trách nhiệm bồi thường đối với hành vi gây lãng phí là kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán. Theo bà, cần phát huy vai trò của cơ quan thanh tra và Kiểm toán nhà nước như thế nào để các quy định của Dự thảo thực sự đi vào cuộc sống?
Cần tăng cường tính bắt buộc trong việc thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm toán. Ảnh: H.THÀNH
Việc Dự thảo quy định sử dụng kết luận của cơ quan thanh tra, kiểm tra và kiểm toán làm một trong những căn cứ xem xét trách nhiệm bồi thường là hoàn toàn phù hợp. Bởi lẽ đây là những cơ quan có chức năng đánh giá khách quan việc quản lý, sử dụng nguồn lực công và có đủ điều kiện chuyên môn để xác định mức độ thiệt hại cũng như nguyên nhân dẫn đến thiệt hại.
Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là có kết luận thanh tra, kiểm toán mà là chất lượng và khả năng thực thi của các kết luận đó. Trong thực tế, không ít trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã phát hiện sai phạm, phát hiện lãng phí, thậm chí kiến nghị xử lý rất rõ nhưng việc thực hiện sau đó còn chậm hoặc chưa triệt để. Điều này làm giảm hiệu quả của toàn bộ cơ chế giám sát.
Vì vậy, tôi cho rằng, trước hết cần nâng cao chất lượng các kết luận thanh tra, kiểm toán theo hướng xác định rõ ba yếu tố: Thiệt hại là gì? Thiệt hại được xác định theo phương pháp nào và trách nhiệm thuộc về ai? Đây là điều kiện tiên quyết để các cơ quan có thẩm quyền có căn cứ áp dụng trách nhiệm kỷ luật hoặc trách nhiệm bồi thường. Nếu kết luận chỉ dừng ở việc nhận định chung rằng có lãng phí hoặc sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả thì rất khó triển khai các bước tiếp theo.
Cùng với đó, cần tăng cường tính bắt buộc trong việc thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm toán. Theo tôi, cần nghiên cứu cơ chế công khai tỷ lệ thực hiện kiến nghị của từng Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp nhà nước. Khi kết quả thực hiện được công khai, áp lực trách nhiệm giải trình sẽ lớn hơn và việc khắc phục sai phạm sẽ có chuyển biến thực chất hơn.
Đồng thời, phải đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và phân tích dữ liệu trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Hiện nay, nhiều quốc gia đã chuyển từ mô hình kiểm tra định kỳ sang mô hình giám sát dựa trên dữ liệu thời gian thực. Chẳng hạn, khi một dự án liên tục điều chỉnh tổng mức đầu tư, tỷ lệ giải ngân thấp kéo dài hoặc công trình sau khi hoàn thành không đạt công suất thiết kế thì hệ thống sẽ tự động phát tín hiệu cảnh báo để cơ quan chức năng kiểm tra sớm.
Một điểm đáng chú ý khác là Dự thảo Nghị định đã đưa ra 14 cách xác định thiệt hại tương ứng với từng dạng hậu quả do lãng phí gây ra, như: Làm tăng chi ngân sách nhà nước; thất thoát ngân sách nhà nước; thất thoát vốn nhà nước tại doanh nghiệp… Bà kỳ vọng như thế nào từ việc bổ sung các quy định này?
Việc bổ sung các phương pháp xác định thiệt hại tương ứng với từng loại hành vi gây lãng phí là rất cần thiết. Vì nếu không có phương pháp xác định thống nhất thì cùng một hành vi nhưng các cơ quan khác nhau có thể đưa ra những đánh giá khác nhau, dẫn đến khó khăn trong quá trình xử lý. Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, muốn xử lý trách nhiệm về quản lý công thì trước hết phải xây dựng được hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả sử dụng nguồn lực công.
Tuy nhiên, theo tôi, để các quy định này đi vào cuộc sống thì cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng “cá thể hóa trách nhiệm”. Trong thực tế, một dự án đầu tư công kém hiệu quả thường là kết quả của cả một chuỗi quyết định từ khâu đề xuất, thẩm định, phê duyệt đến tổ chức thực hiện và giám sát. Nếu chỉ xác định trách nhiệm tập thể thì rất dễ dẫn đến tình trạng "trách nhiệm chia đều thì trách nhiệm bằng không". Vì vậy, cần làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân, từng vị trí công tác trong từng giai đoạn của quá trình quản lý.
Bên cạnh đó, tôi cho rằng phòng, chống lãng phí không nên chỉ tập trung vào xử lý hậu quả. Nhiều nước hiện nay áp dụng mô hình quản trị dựa trên hiệu quả đầu ra, trong đó các dự án công đều phải được theo dõi bằng các chỉ số cụ thể về tiến độ, hiệu quả khai thác và khả năng tạo ra giá trị kinh tế - xã hội. Khi xuất hiện dấu hiệu chậm tiến độ hoặc hiệu quả thấp hơn dự kiến thì cơ quan quản lý phải có trách nhiệm giải trình ngay, nhằm cảnh báo nguy cơ lãng phí từ sớm, từ xa. Đây là kinh nghiệm đáng để nghiên cứu nhằm bổ sung cho cơ chế xử lý lãng phí của nước ta.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, phòng, chống lãng phí hiệu quả không phải là phát hiện được bao nhiêu sai phạm sau khi sự việc đã xảy ra, mà là xây dựng được một hệ thống quản trị khiến cho việc lãng phí khó xảy ra, dễ bị phát hiện và buộc phải chịu trách nhiệm. Đây chính là mục tiêu mà Dự thảo Nghị định cần hướng tới trong quá trình hoàn thiện. Nếu được thiết kế và thực hiện tốt, đây sẽ là một bước tiến quan trọng trong việc chuyển từ tư duy “chi tiêu theo khả năng có nguồn lực” sang tư duy “chi tiêu gắn với hiệu quả và trách nhiệm giải trình”.
Xin trân trọng cảm ơn bà!./.
N. HỒNG (thực hiện)