Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TPHCM). Ảnh: HCMUT
Nghiên cứu mạnh, thương mại hóa yếu
Theo báo cáo thường niên năm 2025 của ĐH Quốc gia TPHCM, số lượng công bố quốc tế trên các tạp chí uy tín của đơn vị này liên tục tăng trong các năm gần đây. Cụ thể, số lượng các bài báo nằm trong danh mục Scopus lần lượt trong các năm 2021, 2022, 2023, 2024 là 1.861 bài; 2.345 bài; 2.790 bài; 3.168 bài. Tính đến tháng 10/2025, số lượng bài báo quốc tế của ĐH này đạt 3.288 bài.
Từ kết quả bài báo tăng trưởng ổn định qua mỗi năm đã phản ánh sự phát triển mạnh mẽ về năng lực nghiên cứu, trình độ học thuật của đội ngũ giảng viên, nhà khoa học của ĐH Quốc gia TPHCM, một trong những trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ hàng đầu của cả nước. Tuy nhiên, số liệu về doanh thu từ chuyển giao khoa học công nghệ của đơn vị này lại không đồng đều. Năm 2022 đạt mức 319,3 tỷ đồng trong khi các năm 2021 là 220,4 tỷ đồng; năm 2023 là 228,5 tỷ đồng, năm 2024 là 294,7 tỷ đồng và tính đến tháng 10/2025 là 269,7 tỷ đồng. Với xu hướng giảm về doanh thu từ hoạt động chuyển giao công nghệ và được đánh giá là chưa tương xứng với tiềm lực nghiên cứu sẵn có, các chuyên gia đã chỉ ra một trong những nguyên nhân cốt lõi của nghịch lý này nằm ở vấn đề thương mại hóa sản phẩm khoa học và công nghệ cũng như xuất phát trực tiếp từ cách thức hình thành và định hướng kết quả nghiên cứu.
GS.TS Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc ĐH Quốc gia TPHCM trong buổi gặp gỡ các nhà khoa học trẻ, đầu ngành thuộc chương trình VNU350 cho biết tính đến cuối năm 2024, ĐH này có hơn 3.670 giảng viên, tỷ lệ người có trình độ tiến sĩ chiếm khoảng 44%. Bà Mai nhìn nhận lâu nay họ làm việc theo chuyên môn, đam mê trong khi thị trường vận hành theo cách khác. “Mỗi người một phách” nên kết quả nghiên cứu không “gặp” được thị trường, doanh nghiệp (DN).
Đưa nghiên cứu “ra khỏi phòng thí nghiệm”
Để khắc phục, việc nghiên cứu, sáng tạo phải đi cùng với những bài toán thực tế. Thời gian tới, Trung tâm Đổi mới Sáng tạo ĐH Quốc gia TPHCM sẽ là nơi kết nối, nhận các đơn đặt hàng của DN, địa phương, chuyển đến các nhà khoa học. Và một trong các giải pháp được ĐH Quốc gia TPHCM đưa ra đó là các tiến sĩ của đơn vị này sẽ có một năm làm việc tại DN hoặc tu nghiệp nước ngoài sau mỗi 5 năm để không “lệch pha” với thị trường.
Trước đó, tại Thông báo số 45-TB/TGV ngày 30/9/2025 của Tổ Giúp việc Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số kết luận cuộc họp đánh giá hiện trạng, tháo gỡ điểm nghẽn và thúc đẩy hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, trọng tâm là cơ chế tài chính và thương mại hóa sản phẩm ngày 30/9/2025 đã đề ra mục tiêu này đối với 4 ĐH, trong đó có ĐH Quốc gia TPHCM: “Xây dựng cơ chế để giảng viên có thể được làm việc 1 năm tại phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển của các tập đoàn, DN hàng đầu, cũng như tại các viện nghiên cứu và ĐH uy tín trên thế giới sau mỗi 5 - 7 năm công tác”.
Như vậy, việc tiến sĩ phải ra DN làm việc hoặc tu nghiệp nước ngoài sau mỗi 5 năm nằm trong kế hoạch cụ thể hóa mục tiêu này. Điều này được kỳ vọng giúp tăng năng lực và kinh nghiệm thương mại hóa của đội ngũ nghiên cứu. Bởi thực tế phần lớn các nhà khoa học được đào tạo chuyên sâu về học thuật, nhưng lại thiếu kiến thức về quản trị công nghệ, sở hữu trí tuệ, đàm phán hợp đồng hay xây dựng mô hình kinh doanh. Trong khi đó, các đơn vị trung gian như trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm DN trong các viện, trường ĐH dù đã được thành lập nhưng hoạt động chưa thực sự hiệu quả, chưa đóng vai trò “cầu nối” mạnh mẽ giữa nghiên cứu và thị trường. Điều này khiến nhiều kết quả nghiên cứu dù có tiềm năng nhưng không được khai thác đúng cách.
Ông Hoàng Anh Tú - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ nhìn nhận trong dòng chảy chung của khoa học và công nghệ toàn cầu, mục tiêu quan trọng là tạo ra các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng và thương mại hóa. Tuy nhiên, để đạt được khả năng ứng dụng bền vững và tiến tới tự chủ công nghệ, nghiên cứu cơ bản vẫn đóng vai trò nền tảng không thể thiếu. Hai loại hình nghiên cứu này tạo thành một mối quan hệ bổ trợ, giống như một “vòng xoáy đi lên”: nghiên cứu cơ bản cung cấp tri thức nền, còn nghiên cứu ứng dụng chuyển hóa tri thức đó thành sản phẩm và giá trị kinh tế.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, ông Tú cho rằng một chiến lược khả thi là tập trung trước vào nghiên cứu ứng dụng nhằm tạo ra sản phẩm có thể tham gia thị trường và mang lại giá trị thương mại, đồng thời lựa chọn những khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi cung ứng để tham gia. Ở giai đoạn đầu, việc nhập khẩu hoặc tích hợp công nghệ từ bên ngoài là điều có thể chấp nhận được. Quan trọng nhất là sản phẩm có thể được thương mại hóa và đứng vững trên thị trường. Song song với đó, hoạt động nghiên cứu cơ bản vẫn cần được duy trì và từng bước tăng cường, để về lâu dài hình thành năng lực tự chủ công nghệ và nâng cao giá trị của sản phẩm trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Thu Hương