Cây bần chua được trồng dọc phá Tam Giang (Rừng ngập mặn ở phường Thuận An)
1. Nhiều năm trước, khi sóng đánh sâu vào bờ, đất bị xói lở, những cánh rừng ngập mặn bắt đầu được trồng. Loài cây được chọn chủ yếu là bần chua, dừa nước, sú, đước. Trong đó, bần chua là loại dễ trồng, chịu nước tốt, sinh trưởng nhanh nên được lựa chọn với mật độ lớn. Theo thời gian, những hàng cây dần hình thành, đủ sức giữ lại từng khoảng đất, vạt bờ không bị trôi theo dòng nước lũ hàng năm.
Trong những năm đầu, loài cây này phát huy hiệu quả rõ rệt. Những vùng cây còn thấp, tán thưa trở thành nơi trú ẩn của tôm cá, nhiều loài tìm về sinh sản. Cá tôm vì thế xuất hiện nhiều hơn quanh khu vực ven rừng. Những mẻ lưới gần bờ cho sản lượng khá, ổn định, đủ để người dân duy trì sinh kế. “Điều đó khiến chúng tôi tin rằng, rừng không chỉ giữ đất, mà còn góp phần giữ lại nguồn lợi thủy sản trên đầm phá”, ông Trần Diêm, ngư dân thôn Ngư Mỹ Thạnh nói.
Ở một số khu vực, rừng bần chua còn giúp những đoạn bờ từng bị xâm thực dần ổn định, nước không còn đánh thẳng vào đất liền. Vào mùa mưa bão, tán cây dày giúp giảm lực sóng, giữ lại phù sa. “Có rừng, người dân yên tâm hơn rất nhiều”, ông Diêm nói.
Theo thống kê, trong khoảng 10 năm qua, có khoảng 120ha rừng ngập mặn được trồng hệ trên đầm phá Tam Giang - Cầu Hai. Chỉ tính riêng tại các xã Đan Điền và Quảng Điền đã trồng hơn 50ha rừng ngập mặn và hiện đang phát triển xanh tốt.
Ở khu vực rừng ngập mặn gần như không có tôm cá
Trong suy nghĩ của người dân, cây bần chua giúp giữ đất, giữ nước, giữ cả nguồn sống. Thế nhưng, theo thời gian, sự thay đổi của rừng kéo theo những biến đổi khác. Đó là khi bần chua không còn là nơi tôm cá tìm về như trước.
2. Chỉ tay về phía những hàng bần chua đang xanh tốt, cao vút, ngư dân Nguyễn Văn Thành cho biết, nước ở khu vực này khác lắm, màu đậm và lặng hơn. Với hơn 40 năm kinh nghiệm đánh bắt trên phá Tam Giang, những ngư dân như ông Thành chỉ cần nhìn mặt nước là biết dưới đáy đã đổi khác.
Ở nhiều bến nhỏ ven phá, nơi có rừng bần chua, câu chuyện lặp lại với những cách nói khác nhau. Có người nói sản lượng tôm cá giảm một nửa, có người bảo “đi cả buổi không đủ tiền dầu”, có người chỉ lắc đầu. Ông Trần Diêm đứng bên ghe nhìn ra khoảng nước trước mặt nói chậm: “Giờ phải ra xa hơn, sát các luồng lạch để đánh bắt, chứ khu vực gần bờ, gần rừng bần chua hầu như không còn tôm cá”.
Ông Phan Mười, Chi hội Nghề cá TDP ngư nghiệp, phường Phong Quảng cho biết, khu vực rừng ngập mặn tại đây khoảng 17ha. Khoảng hai năm trở lại đây, khi cây lớn nhanh, tán dày hơn, sản lượng khai thác giảm rõ rệt. Trước đó, khi cây còn thấp, nước còn thông, những bãi đánh gần bờ vẫn cho sản lượng ổn định. Không phải lúc nào cũng nhiều nhưng đủ để người dân bám nghề.
Theo ông Mười, nhiều lần chèo ghe vào sát mép rừng, có thể cảm nhận rõ mùi hữu cơ phân hủy. Dùng sào khuấy nhẹ, lớp nước dưới có cảm giác đặc quánh, lá bần tích tụ thành lớp dày. Dưới đáy, lá nằm dày, có chỗ đến vài chục cm. Khi dùng tay vớt ít lá lên thì thấy có chất nhầy, như thế thì tôm cá khó sinh sống”, ông Mười nói.
Nhiều ngư dân không nói về nước hay đất, mà nhắc đến lớp rong rêu từng phủ dưới đáy phá, là nơi cá tôm tìm đến trú ẩn. Ngư dân Nguyễn Văn Thành cho rằng, hiện nay rong rêu rất ít xuất hiện. Theo ông Thành, khi lớp lá tích tụ dày, ánh sáng xuống đáy giảm, rong rêu không phát triển được. "Có rong mới có cá, mất rong, cá tôm cũng ít dần", ngư dân Nguyễn Văn Thành đúc kết.
Bìa rừng ngập mặn
Một số hộ nuôi trồng thủy sản cũng cảm nhận được sự thay đổi này. Họ nói rằng, khi còn nhỏ, bần chua giúp bảo vệ đê, nhưng khi cây lớn, lá rụng nhiều, tích tụ lại, làm môi trường nước biến động. Việc xử lý tốn công hơn, chi phí tăng lên. Không phải không nuôi được, nhưng rủi ro lớn hơn. Vì vậy, các hộ đã chặt bớt bần chua như một cách để thích nghi.
Không ai khẳng định chắc chắn nguyên nhân. Nhưng những gì đang diễn ra đủ để tạo nên một cảm nhận chung: Hệ sinh thái dưới mặt nước đang thay đổi. Và sự thay đổi đó không phải lúc nào cũng đi theo hướng tích cực mà người dân luôn kỳ vọng.
PGS.TS. Nguyễn Văn Minh, Phó Trưởng khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế cho biết, đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu đầy đủ, mang tính hệ thống về tác động của cây bần chua đối với môi trường phá Tam Giang. Vì vậy, rất khó để đưa ra kết luận chắc chắn về mối liên hệ giữa sự phát triển của rừng bần chua và những biến đổi đang diễn ra.
3. Trên toàn vùng đầm phá Tam Giang, câu chuyện không dừng ở những gì nhìn thấy. Hệ sinh thái nơi đây luôn vận động, chịu tác động của nhiều yếu tố cùng lúc. Rừng bần chua là một phần, nhưng không phải là tất cả. Những thay đổi về khai thác, môi trường nước và yếu tố tự nhiên đều góp phần tạo nên bức tranh hiện tại.
Ông Trần Quang Nhất, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản cho rằng, cần nhìn nhận vấn đề trong tổng thể: “Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là hệ sinh thái mở, chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố. Việc nguồn lợi suy giảm không thể quy về một nguyên nhân đơn lẻ”.
Cũng theo ông Trần Quang Nhất, vấn đề không phải là dừng việc trồng rừng, mà phải điều chỉnh cách làm. Cần đánh giá cụ thể từng khu vực, mật độ cây, khả năng trao đổi nước. Những nơi quá dày có thể tỉa thưa, tạo luồng lưu thông. Đồng thời, các biện pháp phục hồi hệ sinh thái đáy, tái tạo nguồn lợi, kiểm soát khai thác cũng cần được triển khai song song.
Từ kinh nghiệm thực tế, ngư dân Nguyễn Văn Thành đề nghị ngoài tỉa thưa cần chừa lối cho nước chảy. Làm sao cho lá và quả bần chua trôi theo dòng nước, không còn tích tụ quá nhiều một chỗ dễ gây ô nhiễm nguồn nước, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
Chiều xuống chậm trên phá. Những chiếc thuyền SUP chở du khách vẫn lướt qua những cánh rừng bần chua. Du lịch những năm gần đây trên phá Tam Giang khá sinh động, hấp dẫn.
Những tán bần chua vẫn đứng đó, xanh và dày. Những chiếc ghe lại rời bến, hướng ra vùng nước rộng hơn. Cuộc sống vẫn vận động không ngừng, nhưng ở đâu đó, câu hỏi vẫn còn: Làm sao để cá tôm quay lại, mà vẫn giữ được rừng. Câu trả lời có lẽ không nằm ở một phía, mà ở cách dung hòa giữa bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế trên vùng đầm phá Tam Giang.
Đức Quang