Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại buổi làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, sáng 25/5. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
Chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, Phó trưởng khoa Khoa học cơ bản, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng ý kiến của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là sự chuyển biến quan trọng trong tư duy phát triển, mang tính cách mạng, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và có vai trò định hướng chiến lược đối với toàn bộ tiến trình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Luận điểm này trước hết góp phần thay đổi tư duy phát triển vốn chủ yếu dựa vào mô hình “đi tắt, đón đầu” trong nhiều thập niên qua.
Thực tế cho thấy mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào gia công, lắp ráp, khai thác tài nguyên và tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài đang bộc lộ nhiều giới hạn như năng suất lao động thấp, khả năng làm chủ công nghệ cốt lõi còn hạn chế và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình ngày càng rõ nét. Khi xác định khoa học cơ bản là nền tảng để Việt Nam tự tạo ra tri thức mới thay vì chỉ tiếp nhận tri thức từ bên ngoài đồng nghĩa với việc đặt cơ sở cho một mô hình phát triển dựa trên năng lực sáng tạo nội sinh. Đây chính là lời giải căn bản cho bài toán chuyển đổi mô hình tăng trưởng của đất nước trong giai đoạn mới.
Luận điểm này còn tạo ra cơ sở chính trị quan trọng để bảo vệ cho việc đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản. Trong thực tế, đầu tư cho nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam thường chịu áp lực lớn từ yêu cầu về hiệu quả ngắn hạn và chu kỳ ngân sách hằng năm, trong khi thành quả của khoa học cơ bản không thể đo lường ngay bằng doanh thu hay sản phẩm thương mại cụ thể.
Việc người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta khẳng định đầu tư cho khoa học cơ bản là đầu tư chiến lược cho tương lai dân tộc đã tạo ra nền tảng chính trị và tư tưởng để ưu tiên nguồn lực cho lĩnh vực này, ngay cả khi phải đối mặt với những áp lực kinh tế và yêu cầu về hiệu quả ngắn hạn.
Quan điểm coi khoa học cơ bản là đầu tư chiến lược còn gắn trực tiếp với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Những lĩnh vực được xem là động lực của tương lai như trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, công nghệ lượng tử hay vật liệu mới đều bắt nguồn từ các nghiên cứu cơ bản được đầu tư liên tục trong nhiều thập niên.
Thực tiễn phát triển của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản... cho thấy không quốc gia nào có thể làm chủ công nghệ cốt lõi nếu thiếu nền tảng khoa học cơ bản vững mạnh. Đồng thời, trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt, chuỗi cung ứng công nghệ bị phân mảnh và các rào cản kỹ thuật xuất hiện ngày càng nhiều, năng lực tự chủ khoa học – công nghệ không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề an ninh và chủ quyền quốc gia.
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải chia sẻ, ở phương diện định hướng phát triển, luận điểm này góp phần hình thành một khung tư duy mới cho chiến lược phát triển đất nước. Đó là định hướng việc phân bổ nguồn lực quốc gia theo hướng coi trọng hạ tầng tri thức song song với hạ tầng vật chất; cải cách cơ chế quản lý khoa học từ tư duy hành chính sang tư duy quản trị sáng tạo; chính sách phát triển con người theo hướng phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài khoa học; định hướng quá trình hội nhập quốc tế theo hướng chủ động, có năng lực làm chủ công nghệ và bảo vệ lợi ích quốc gia.
Gỡ điểm nghẽn cho nghiên cứu khoa học cơ bản
Từ yêu cầu thống nhất quan điểm phát triển về nghiên cứu khoa học cơ bản để bảo đảm mọi giải pháp, nguồn lực và tổ chức thực hiện đều đi đúng hướng, đúng trọng tâm và đúng tầm chiến lược, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Quan điểm đúng phải được chuyển hóa thành cơ chế đúng, nguồn lực đúng, cách làm đúng và cần tập trung vào các nhóm giải pháp chủ yếu. Đầu tiên là đổi mới thể chế quản trị nghiên cứu cơ bản, chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị sáng tạo; tập trung hậu kiểm, đánh giá chất lượng, kết quả và tác động dài hạn. Cơ chế quản lý phải chấp nhận rủi ro khoa học, giảm hành chính hóa, bảo vệ tự do học thuật, đề cao trách nhiệm giải trình và liêm chính khoa học.
Cùng với đó là việc thiết kế cơ chế tài chính phù hợp với từng loại hình nghiên cứu. Đối với nghiên cứu cơ bản định hướng tri thức nền, cần có ngân sách nền ổn định và cơ chế tài trợ dài hạn. Đối với nghiên cứu cơ bản định hướng công nghệ chiến lược, cần kết hợp ngân sách Nhà nước, quỹ cạnh tranh, đặt hàng quốc gia và hợp tác doanh nghiệp để hình thành chuỗi tiếp nối từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, phát triển thực nghiệm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn hóa đến chuyển giao và thương mại hóa.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Kim Hiếu, Trưởng khoa Khoa học xã hội – Ngôn ngữ quốc tế, Trường Đại học Gia Định (Thành phố Hồ Chí Minh), quan điểm này đem tới sự kỳ vọng về cuộc cách mạng giáo dục gắn với công nghệ lõi. Việc đổi mới thể chế quản trị nghiên cứu cơ bản và thiết kế cơ chế tài chính phù hợp với từng loại hình nghiên cứu sẽ giúp tạo nên sự thay đổi thực chất trong hệ sinh thái giáo dục, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo ở nước ta.
Việc đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu khoa học sẽ đi vào trọng điểm: Nhà nước tập trung nguồn lực xây dựng các "đại học đẳng cấp quốc tế" và các trung tâm nghiên cứu trọng điểm về bán dẫn, AI, năng lượng mới… Cùng với đó là việc đưa doanh nghiệp vào giảng đường đại học, xóa bỏ khoảng cách giữa đào tạo và thực tế thông qua các mô hình hợp tác công - tư (PPP) sâu rộng, nơi doanh nghiệp đặt hàng trực tiếp bài toán nghiên cứu cho các nhà khoa học.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Kim Hiếu đặc biệt lưu tâm đến nhóm giải pháp thứ ba mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đề cập. Đó là: Phát triển hệ sinh thái nhân tài khoa học, tổ chức đồng bộ từ phát hiện sớm, đào tạo tinh hoa, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ, trưởng nhóm trẻ, chuyên gia đầu ngành đến trí thức Việt Nam toàn cầu. Trọng tâm là tạo môi trường học thuật tự do, trung thực, sáng tạo, có đãi ngộ xứng đáng và có cơ hội giao nhiệm vụ lớn cho người tài.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ: Vấn đề nhân lực khoa học đang là điểm nghẽn chiến lược. Hiện nay, chúng ta chưa hình thành đầy đủ hệ sinh thái phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và bảo vệ nhân tài khoa học. Đội ngũ chuyên gia đầu ngành ở nhiều lĩnh vực còn mỏng; thiếu lực lượng kế cận; nhiều nhà khoa học trẻ chưa có môi trường để phát triển lâu dài; tình trạng chảy máu chất xám vẫn còn diễn ra.
Do vậy, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Bùi Kim Hiếu đề xuất cần thể chế phù hợp cho tài năng để thực hiện mục tiêu hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học giỏi gắn với đổi mới sáng tạo, tăng trưởng kinh tế và khát vọng tự lực, tự cường của dân tộc trong kỷ nguyên mới. Chỉ khi có nhân lực làm chủ được công nghệ lõi, Việt Nam mới thực sự có độc lập về kinh tế và tự chủ về phát triển trong một thế giới đầy biến động. Đất nước cũng cần cơ chế đặc thù trong trọng dụng nhân tài (về lương thưởng, đãi ngộ, môi trường làm việc) để giữ chất xám chuyên gia trong nước cũng như thu hút các nhà khoa học, trí thức kiều bào và quốc tế về Việt Nam làm việc.
Cùng với đó là một cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung; xóa bỏ tư duy "không quản được thì cấm", tạo không gian cho các mô hình kinh tế mới (kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế thông minh và trí tuệ nhân tạo) phát triển.
Hoàng Liên Sơn (TTXVN)