Trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đang trở thành xu thế phát triển chủ đạo trên toàn cầu, Việt Nam đang từng bước khẳng định vị thế bằng những kết quả ngày càng rõ nét trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Từ sản xuất, xuất khẩu, khởi nghiệp sáng tạo cho tới phát triển hạ tầng số và hoàn thiện thể chế, nhiều chỉ số quan trọng ghi nhận sự cải thiện tích cực, phản ánh hiệu quả của các chính sách thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ thời gian qua.
Một trong những điểm nhấn đáng chú ý là sự đóng góp ngày càng lớn của các sản phẩm công nghệ cao trong hoạt động xuất khẩu. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, trong quý I/2026, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa công nghệ cao đạt 50,76%. Điều này đồng nghĩa với việc hơn một nửa giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến từ các nhóm sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao giá trị gia tăng đang diễn ra mạnh mẽ.
Kết quả này không chỉ phản ánh năng lực sản xuất ngày càng được cải thiện mà còn cho thấy khoa học và công nghệ đang trở thành yếu tố then chốt trong việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đây cũng là cơ sở quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng bền vững trong dài hạn.
Việt Nam ngày càng khẳng định vị thế về khoa học và công nghệ.(Ảnh minh họa).
Hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tiếp tục được quốc tế ghi nhận
Cùng với sự phát triển của các ngành công nghệ cao, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia tiếp tục ghi nhận những bước tiến đáng kể. Theo Báo cáo Chỉ số Hệ sinh thái Khởi nghiệp Toàn cầu 2026 của StartupBlink, Việt Nam tăng 5 bậc và vươn lên vị trí thứ 50 thế giới. Đây là thứ hạng cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay.
Tính đến hết tháng 5/2026, cả nước có 963 doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 20 sàn giao dịch khoa học và công nghệ cùng 37 trung tâm đổi mới sáng tạo tại 26 trong số 34 tỉnh, thành phố. Mạng lưới này đang từng bước tạo dựng môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các kết quả khoa học.
Một trong những thành quả nổi bật của quá trình chuyển đổi số là sự gia tăng đóng góp của kinh tế số đối với nền kinh tế quốc dân. Theo thống kê, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình trong tháng 5/2026 đạt 50,2%.Đáng chú ý, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số năm 2025 ước đạt 14,02% GDP, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD.
Sự phát triển của kinh tế số không chỉ tạo ra những động lực tăng trưởng mới mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường và thúc đẩy đổi mới mô hình sản xuất, kinh doanh trong nhiều lĩnh vực.
Cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của hạ tầng viễn thông và Internet. Theo số liệu công bố, tốc độ băng rộng di động của Việt Nam đạt 207,3 Mbps, xếp thứ 11 trong số 104 quốc gia. Trong khi đó, tốc độ băng rộng cố định đạt 287,33 Mbps, đứng thứ 11 trong số 154 quốc gia, cho thấy chất lượng hạ tầng kết nối của Việt Nam đang được cải thiện đáng kể.
Hiện cả nước có 110,5 triệu thuê bao truy nhập Internet băng rộng di động, trong đó 24,29 triệu thuê bao sử dụng dịch vụ 5G. Số thuê bao Internet băng rộng cố định đạt 25,62 triệu thuê bao.
Sự mở rộng nhanh của hạ tầng kết nối, đặc biệt là mạng 5G, đang tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế số, thúc đẩy các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, sản xuất thông minh, đô thị thông minh và các dịch vụ số thế hệ mới.
Cùng với đó, doanh thu dịch vụ bưu chính trong tháng 5/2026 ước đạt 8.500 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này cho thấy nhu cầu giao nhận, vận chuyển hàng hóa tiếp tục gia tăng, phản ánh sự phát triển mạnh của thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh dựa trên nền tảng số.
Hoàn thiện thể chế, mở rộng hợp tác quốc tế về công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển.
Trong tháng 5/2026, Bộ đã tham mưu trình Chính phủ ban hành 2 nghị định, 2 nghị quyết; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 quyết định; đồng thời ban hành theo thẩm quyền 4 thông tư.
Các chính sách được xây dựng theo hướng hoàn thiện hành lang pháp lý cho công nghệ mới, công nghệ chiến lược; hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, phát triển hạ tầng kỹ thuật, bảo đảm yêu cầu về an toàn, an ninh và phát triển bền vững.
Cùng với công tác xây dựng chính sách, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức nhiều hoạt động tháo gỡ khó khăn trong triển khai các nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Các sự kiện như Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, Triển lãm Sách Khoa học và Công nghệ, Techmart AI 2026 đã góp phần lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo, tăng cường kết nối giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng khởi nghiệp.
Trong tháng 5/2026, Bộ tiếp tục thúc đẩy hợp tác với nhiều quốc gia như Ấn Độ, Sri Lanka, Thụy Điển, Singapore, Hoa Kỳ, Thái Lan và Philippines. Các hoạt động hội đàm, diễn đàn, tiếp xúc cấp cao tập trung vào những lĩnh vực công nghệ chiến lược được Nghị quyết 57-NQ/TW xác định là động lực phát triển trong giai đoạn mới, gồm trí tuệ nhân tạo, công nghệ bán dẫn, 6G, công nghệ vệ tinh và chuyển đổi số.
Thông qua các chương trình hợp tác, Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận nguồn lực quốc tế về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục triển khai các nhiệm vụ theo kết luận của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Trọng tâm là hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, bưu chính và viễn thông.
Bộ cũng sẽ nghiên cứu triển khai Đề án tái cấu trúc các chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia; hoàn thiện Đề án Sàn giao dịch khoa học và công nghệ quốc gia; trình Thủ tướng Chính phủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số cùng nhiều nhiệm vụ quan trọng khác.
Hằng Phạm