Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo: Trụ cột kiến tạo mô hình tăng trưởng mới

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo: Trụ cột kiến tạo mô hình tăng trưởng mới
4 giờ trướcBài gốc
Khoa học công nghệ, ĐMST là động lực then chốt để Việt Nam chuyển dịch sang nền kinh tế dựa trên tri thức, giá trị gia tăng cao trong giai đoạn phát triển mới. Ảnh minh họa: S.T
Định hình trụ cột tăng trưởng từ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo
Bước vào giai đoạn phát triển mới, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng một cách căn bản. Sau nhiều năm nền kinh tế tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động và xuất khẩu, dư địa của mô hình “thâm dụng vốn” đã dần thu hẹp, trong khi áp lực cạnh tranh toàn cầu ngày càng lớn. Trong bối cảnh đó, khoa học công nghệ, ĐMST đang được xác lập là trục phát triển mới, đóng vai trò quyết định đối với năng suất, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nhìn lại năng lực ĐMST của Việt Nam, TS. Nguyễn Hồng Thu - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới - cho biết, trong những năm gần đây, năng lực ĐMST của Việt Nam đã có sự cải thiện đáng kể trên các bảng xếp hạng quốc tế.
Theo Chỉ số ĐMST toàn cầu (GII) của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), năm 2025, Việt Nam xếp thứ 44/139 nền kinh tế, duy trì vị trí tương đương năm 2024 và thuộc nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp có năng lực đổi mới nổi bật. Việt Nam cũng đứng thứ 2 trong nhóm 37 nền kinh tế thu nhập trung bình thấp, chỉ sau Ấn Độ. Đáng chú ý, trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có năng lực đổi mới khá, xếp sau Singapore và Malaysia nhưng vượt nhiều nước đang phát triển trong khu vực.
Trong giai đoạn 2016-2025, Việt Nam đã cải thiện thứ hạng từ 59 lên 44, phản ánh sự cải thiện đáng kể về năng lực đổi mới của nền kinh tế. Theo cấu trúc chỉ số GII, từ năm 2017 đến năm 2025, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể về các chỉ số đầu vào (từ hạng 71 lên hạng 50), đồng thời liên tục duy trì vị trí trong top 40 về chỉ số đầu ra. “Điều này phản ảnh thực tế rằng Việt Nam có khả năng chuyển hóa nguồn lực đổi mới thành kết quả ĐMST tương đối hiệu quả” - bà Thu nói.
Về phía cộng đồng doanh nghiệp, bà Thu cho biết, các doanh nghiệp Việt Nam đã có xu hướng tăng đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, sản xuất điện tử, công nghệ số. Theo báo cáo GII năm 2025, Việt Nam nằm trong nhóm 10 quốc gia có mức chi R&D từ doanh nghiệp tăng nhanh, phản ánh vai trò ngày càng lớn của khu vực tư nhân trong hệ sinh thái ĐMST.
Đáng chú ý, một điểm mạnh của hệ sinh thái ĐMST Việt Nam là khả năng tạo ra các kết quả đổi mới liên quan đến sản xuất và thương mại quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp chế biến và công nghệ cao. Hiện Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia có tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao lớn trên thế giới. Một số chỉ số đổi mới liên quan đến thương mại sáng tạo như xuất khẩu hàng hóa sáng tạo và xuất khẩu công nghệ cao đạt thứ hạng rất cao toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam cũng đạt kết quả khá tốt trong một số lĩnh vực như tạo ứng dụng di động, đứng thứ 7 thế giới… Những kết quả này phản ánh sự phát triển của các ngành kinh tế số và công nghiệp công nghệ cao trong nền kinh tế Việt Nam.
Ở góc độ thể chế, PGS,TS. Huỳnh Quyết Thắng - Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng - nhấn mạnh hàng loạt nghị quyết, chương trình hành động và văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến khoa học công nghệ, ĐMST, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo được ban hành liên tiếp từ cuối năm 2024 đến đầu năm 2026. Điều này cho thấy chính sách đang được điều hành theo hướng phản ứng nhanh, liên tục cập nhật, với trọng tâm là tháo gỡ rào cản thể chế, mở không gian thử nghiệm và tạo đột phá cho các mô hình kinh doanh mới.
Ở cấp độ doanh nghiệp, theo ông Thắng, chuyển động chính sách này mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Khu vực tư nhân không còn được nhìn nhận đơn thuần là chủ thể thị trường, mà được đặt vào vị trí trung tâm của ĐMST, hấp thụ công nghệ và thương mại hóa tri thức. Đây là thay đổi có tính bản lề, bởi trong bối cảnh tăng trưởng truyền thống tới hạn, chính doanh nghiệp sẽ là lực lượng chuyển hóa công nghệ thành giá trị gia tăng thực tế cho nền kinh tế.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn 2026-2030 là xác lập mô hình tăng trưởng mới lấy khoa học, công nghệ, ĐMST và chuyển đổi số làm động lực chính.
Các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng tăng đầu tư cho R&D. Ảnh minh họa: S.T
Tháo gỡ điểm nghẽn để phát huy động lực đổi mới sáng tạo
Bên cạnh những kết quả tích cực, các chuyên gia cũng đánh giá hệ thống ĐMST của Việt Nam vẫn tồn tại một số hạn chế quan trọng.
TS. Nguyễn Hồng Thu chỉ rõ, chính sách về ĐMST ngày càng được ưu tiên trong chiến lược phát triển quốc gia và khung thể chế và pháp lý đang từng bước được hoàn thiện, song hiệu quả thực thi chính sách chưa cao. Hiện các chính sách về ĐMST được triển khai bởi nhiều bộ, ngành khác nhau, nên dẫn đến tình trạng chồng chéo và thiếu đồng bộ trong thực thi.
Ngoài ra, các thủ tục hành chính trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ còn phức tạp, cơ chế tài chính cho nghiên cứu khoa học còn cứng nhắc. “Mặc dù doanh nghiệp được xác định là trung tâm của hệ thống ĐMST, nhưng chính sách chưa tạo động lực đủ mạnh nên mức độ tham gia của doanh nghiệp trong hoạt động R&D vẫn còn hạn chế” - bà Thu nói.
Bên cạnh đó, theo GS,TS. Trần Thị Vân Hoa - Nguyên Phó Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Quốc dân, mức đầu tư cho R&D của Việt Nam còn khiêm tốn. Chi tiêu cho R&D mới khoảng 0,53% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình của các quốc gia có thu nhập trung bình cao (trên 1,5%) và kém rất xa so với một số nước như Hàn Quốc (4,8%) hay Israel (5,6%). Khoảng cách lớn về đầu tư cho R&D cho thấy nguồn lực tài chính dành cho ĐMST vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế dựa trên tri thức.
Ở cấp độ doanh nghiệp, theo các chuyên gia, doanh nghiệp được xem là chủ thể trung tâm của hệ thống ĐMST, nhưng năng lực đổi mới của khu vực doanh nghiệp vẫn còn nhiều hạn chế. Một đặc điểm phổ biến của các doanh nghiệp là ĐMST chủ yếu mang tính cải tiến nhỏ hoặc “đổi mới tiết kiệm”, tức là các doanh nghiệp thường chỉ điều chỉnh hoặc cải tiến sản phẩm hiện có để phù hợp với thị trường thu nhập thấp, thay vì phát triển công nghệ mới.
Từ thực tế trên, để thúc đẩy ĐMST và chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, TS. Nguyễn Hồng Thu cho rằng, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và khung chính sách cho ĐMST, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Trong đó cần tập trung vào các giải pháp chính sách như: cải cách cơ chế quản lý khoa học và công nghệ theo hướng tăng quyền tự chủ cho tổ chức nghiên cứu và trường đại học; hoàn thiện khung pháp lý về chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; phát triển thị trường khoa học và công nghệ, thúc đẩy kết nối cung – cầu công nghệ; đơn giản hóa thủ tục tài chính trong nghiên cứu khoa học. Việc hoàn thiện thể chế sẽ giúp giảm các rào cản hành chính, khuyến khích các tổ chức và doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn vào hoạt động ĐMST.
Giải pháp nữa được GS,TS. Trần Thị Vân Hoa khuyến nghị là cần tăng mạnh chi tiêu cho R&D, phấn đấu đạt 1,5 - 2% GDP vào năm 2030. Đồng thời, giảm mạnh cơ chế xin – cho trong phê duyệt dự án khoa học, chuyển sang đặt hàng theo kết quả đầu ra; áp dụng cơ chế đồng tài trợ công - tư cho R&D, cho phép quỹ đầu tư mạo hiểm tham gia sâu vào hệ sinh thái đổi mới… “Kinh nghiệm của Israel cho thấy, với dân số chỉ 9 triệu người nhưng đầu tư R&D/GDP trên 5%, Israel đã tạo ra hệ sinh thái startup mạnh nhất thế giới” – bà Hoa thông tin.
Liên quan đến thúc đẩy R&D, PGS,TS. Huỳnh Quyết Thắng đưa thêm kiến nghị, cần xây dựng cơ chế đầu tư linh hoạt hơn cho R&D, thí điểm công nghệ và ĐMST trong doanh nghiệp nhà nước, bởi theo ông Thắng, một điểm nghẽn phổ biến hiện nay là quy trình đầu tư, mua sắm và đánh giá hiệu quả thường phù hợp với tài sản hữu hình hơn là với công nghệ, dữ liệu và nghiên cứu thử nghiệm.
Đồng thời, cần mở rộng không gian thử nghiệm chính sách và mô hình kinh doanh mới cho khu vực tư nhân. “ĐMST luôn cần khả năng thử nhanh, điều chỉnh nhanh và mở rộng nhanh nếu mô hình thành công. Do đó, cần thúc đẩy các cơ chế thí điểm, sandbox, thử nghiệm công nghệ và cơ chế chấp nhận rủi ro hợp lý đối với sản phẩm, dịch vụ, nền tảng và quy trình mới” - ông Thắng nhấn mạnh.
Ngoài ra, để phát triển doanh nghiệp ĐMST, các chuyên gia cho rằng cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số, công nghệ mới; phát triển các vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm tăng tốc khởi nghiệp; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động R&D; thúc đẩy hình thành các tập đoàn công nghệ lớn của Việt Nam…/.
DIỆU THIỆN
Nguồn Kiểm Toán : http://baokiemtoan.vn/khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-tru-cot-kien-tao-mo-hinh-tang-truong-moi-46911.html