Bạn bè cũng thưa thớt dần, phần vì một số cũng gặp khó khăn chung, một số đã giúp đỡ anh ít nhiều và một số thì sợ liên lụy. Dù lên tinh thần, Hậu vẫn không khỏi cảm thấy tủi thân và cay đắng. Một buổi chiều, đang ngồi trầm lặng với cốc cà-phê trong quán vắng, anh bỗng ngửi thấy mùi khói, nhìn sang bên đường thấy một bà già đang vun lá khô đốt. Làn khói vẩn vơ bay lên, lan dần theo gió. Bỗng nhiên Hậu nhớ mùi khói quê nhà. Và anh lẩm nhẩm, tầm này gió se, hình như cũng vào mùa đốt đồng. Lòng anh chợt nôn nao. Không nghĩ nhiều, anh quyết định mai sẽ về quê. Như một chuyến nghỉ ngơi tìm lại chính mình.
Chiếc xe bon bon đi trong không khí dịu mát, chẳng mấy đã về đến ngã rẽ đầu xã. Hậu bảo tài xế cho xuống luôn ở đó, anh muốn đi bộ về làng. Cánh đồng làng Môn tầm này đã gặt xong. Trên những thửa ruộng chỉ còn trơ lại đám gốc rạ ngả đang chuyển dần sang màu nâu xám, đôi chỗ, khói đốt rạ cuộn lên thành từng vệt dài mờ mịt trong nắng chiều. Mùi khói ngai ngái, lẫn vị ngọt của đất, gợi lên một mùi hương quen thuộc của ký ức.
Thực ra, người làng giờ chẳng còn mấy ai đốt rơm rạ như ngày xưa nữa. Bên hợp tác xã có cái nhà máy chế biến phụ phẩm nông nghiệp, rơm rạ được gom lại bán cho họ. Nhưng thỉnh thoảng, vẫn còn vài nhà giữ thói quen, gom đống rơm giữa ruộng mà đốt, như một cách tiễn mùa. Khói lam chiều, hòa với tiếng cuốc đất lục cục, tiếng gọi nhau í ới, tiếng xe máy lạch bạch trên đường bê-tông liên thôn, tạo nên bản giao hưởng vừa quen vừa lạ.
Trên con đường nhỏ dẫn về xóm Đông, Hậu dừng xe. Gió từ cánh đồng lùa vào mặt, man mát. Anh đã rời quê lên Hà Nội học rồi làm việc gần chục năm nay. Thời gian như cơn gió thốc, vụt qua lúc nào không hay. Thi thoảng có việc anh vẫn về nhưng cứ vội vàng, đôn đáo, sấp sấp, ngửa ngửa. Chẳng kịp để ý điều gì. Về lần này, chợt thấy bao thứ đổi thay lạ lẫm. Cánh đồng từng mênh mông, nay một phần thành khu công nghiệp, xa xa là dãy nhà trọ, cột điện cao thế dựng lên như những cây sắt khổng lồ. Nhưng quang cảnh sau mùa gặt, mùi rơm khói, tiếng trẻ con gọi nhau chạy lon ton… vẫn còn đó, như giữ lại cho người đi xa một sợi dây ràng buộc.
Đến một thửa ruộng, Hậu dừng lại đứng nhìn. Anh thấy bóng dáng một người đang lom khom buộc mấy bó rơm rất quen. Đó là bà Sửu – người hàng xóm thuở nhỏ. Dáng bà gầy quắt, lưng còng như dấu hỏi, tóc bạc trắng. Ngày xưa bà hay trông Hậu những khi bố mẹ đi làm đồng. Bà làm đồng giỏi, chịu khó, lại nổi tiếng cả làng vì nuôi lợn khéo.
– Bà Sửu ơi! Hậu gọi, giọng hồ hởi.
Bà ngẩng lên, đôi mắt nheo nheo chợt sáng bừng:
– Ối giời, thằng Hậu đấy à! Lâu lắm mới thấy về làng. Khác quá rồi!
Hậu cười, chạy lại đỡ bà gánh rơm. Mùi rơm khô áp vào vai, ngòn ngọt ngai ngái.
– Cháu về mấy hôm thăm bố mẹ. Bà vẫn khỏe chứ ạ?
– Ừ, bà già rồi, không còn được như xưa chỉ làm tí cho vui. Ngồi không cũng buồn bực tay chân.
Hậu nhìn đôi tay gầy guộc, những ngón chai sần vẫn thoăn thoắt buộc rơm, bỗng thấy cay cay nơi sống mũi. Bao nhiêu năm đi xa, có mấy lần anh ghé sang thăm bà đâu.
Trên con đường làng, trẻ con nô đùa, đám thanh niên phóng xe điện vù vù. Mấy ngôi nhà mái ngói cũ kỹ xen lẫn với những căn nhà tầng mới xây. Hậu nhận ra làng quê mình đang thay áo, nhưng thấp thoáng đâu đó, hồn quê vẫn thấm đẫm trong từng góc nhỏ, mấy bụi chuối ven đường, bức tường gạch tróc lở và bến nước trong veo khép mình dưới tán cây sung già.
Hậu về đến nhà thấy bố anh đang nhóm bếp. Cái bếp than tổ ong cũ giờ được thay bằng bếp gas, nhưng bố vẫn giữ thói quen nhóm bếp củi sau vườn.
- Con tưởng giờ bố mẹ toàn nấu bằng bếp gas? Hậu hỏi.
Bố anh cười khà: - Bếp gas thì nhanh, nhưng cơm nấu bếp củi mới dẻo, mới thơm. Người ở phố chắc không hiểu được đâu.
Hậu im lặng. Anh hiểu, cái bếp củi kia không chỉ để nấu nướng, mà còn giữ lại một chút hồn quê trong căn nhà này.
Bữa cơm tối, cả nhà quây quần bên mâm cơm giản dị. Mẹ gắp thức ăn cho Hậu, ánh mắt hiền từ: - Ở trên thành phố ăn uống cầu kỳ, phong phú, về nhà chỉ có mấy món quê, con có thấy chán không?
Hậu lắc đầu:
- Con thèm nhất mấy món này. Ăn cơm nhà mình vẫn ngon nhất.
Ngoài hiên, gió lùa, mùi hoa cau thoảng vào. Trên mái nhà, mấy con chim sẻ ríu rít như trò chuyện. Hậu chợt nhận ra, ở thành phố anh có thể ăn trong nhà hàng sang trọng, uống cà-phê máy lạnh, nhưng cái cảm giác bình yên này thì không nơi nào có được. Đầu óc anh nhẹ bẫng, bao tính toán bộn bề như đã rời xa.
Mấy hôm sau, Hậu lang thang khắp làng. Anh ghé qua cái giếng đá cũ, nơi bọn trẻ con ngày xưa thường tụ tập. Giờ giếng đã bị lấp, thay bằng một bồn nước inox sáng loáng. Anh đi ngang qua sân đình, nơi từng rộn ràng hát chèo, múa rối. Nay đình im lìm, thỉnh thoảng mới mở cửa ngày rằm, mùng một hay dịp lễ hội. Trên tường, vài tấm áp-phích tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường…
Hậu gặp Phong - bạn nối khố thuở nhỏ. Giờ Phong làm bí thư chi đoàn thôn.
- Dạo này làng thay đổi nhiều quá nhỉ? Hậu hỏi.
Phong cười:
- Ừ, cũng phải đổi thay thôi. Ngày trước, làng nghèo lắm. Bây giờ đường bê-tông, nhà tầng, có nhà máy, người trẻ đỡ phải tha hương. Nhưng mà, cũng mất đi nhiều thứ cũ kỹ.
Hai người ngồi bên gốc đa đầu làng. Lá đa xào xạc, gió thổi mát rượi. Phong kể chuyện, rằng bọn trẻ con giờ ít chơi nhảy dây, đánh bi, thả diều. Thay vào đó là điện thoại, trò chơi điện tử. Người lớn thì bận mưu sinh, ít khi ngồi hàn huyên nơi sân đình. Nhiều gia đình trẻ không còn giữ tục lệ như xưa. Khu công nghiệp mới mọc lên, ruộng đất dần hết, mọi người đi làm công nhân, lao công, bảo vệ cũng có thêm thu nhập nhưng cũng bấp bênh. Vì hết tuổi có thể người ta thải, lấy người mới. Chưa kể, có tiền, thêm nhiều dịch vụ tiện lợi nhưng cũng phát sinh nhiều tệ nạn. Nhiều câu chuyện đau đầu, đau lòng lắm.
Hậu nghe, lòng chợt buồn man mác. Anh nhớ ngày bé, mỗi lần Tết đến, cả làng rộn ràng gói bánh chưng, nhà nào cũng đỏ lửa, háo hức. Giờ có siêu thị, người ta mua sẵn, chẳng còn mấy ai thức trắng đêm bên bếp lửa để trông nồi bánh và đón giao thừa. Mà chẳng mấy lại đến Tết. Năm nay, Hậu sẽ về quê ăn Tết với bố mẹ. Chắc ông bà vui lắm.
Một buổi chiều, Hậu cùng Phong ra đồng. Xa xa, những cột khói lam bốc lên từ vài bếp đốt rơm. Trẻ con chạy theo cánh diều, gió rít lên những khúc nhạc quen thuộc.
Phong chợt nói:
– Tao vẫn tin làng quê sẽ còn giữ được cái hồn. Dù hiện đại thế nào, người ta vẫn cần một chốn để trở về. Như mày, đi bao năm rồi, cuối cùng cũng lại tìm về khói bếp.
Hậu gật đầu. Anh hiểu. Dù đi đâu, cái gốc rễ vẫn nằm ở nơi đây – nơi có mùi khói rơm, có tiếng chim chiều, có những bữa cơm giản dị. Làng quê, dẫu đổi thay, vẫn là chốn neo đậu của tâm hồn.
Đêm ấy, Hậu nằm nghe tiếng dế gáy ngoài vườn. Anh thấy mình như được sống lại những ngày tuổi thơ. Và anh biết, dẫu có xa quê bao nhiêu, thì mảnh đất này vẫn là nơi anh thuộc về.
Khói bếp chiều quê – như một sợi dây vô hình, níu giữ con người giữa dòng đời vội vã.
Nhất Mạt Hương/Báo Giác Ngộ