Không cần xác minh điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú với trẻ dưới 6 tuổi

Không cần xác minh điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú với trẻ dưới 6 tuổi
7 giờ trướcBài gốc
- PHÓNG VIÊN: Một trong những vướng mắc nổi lên khi thực hiện Luật Cư trú là thủ tục nhập khẩu cho trẻ em khi chủ hộ đã chết. Việc này đã được xử lý ra sao, thưa ông?
- Đại tá NGÔ NHƯ CƯỜNG: Luật Cư trú số 68 năm 2020 đã quy định những nội dung thuận lợi cho người dân trong việc đăng ký cư trú, bảo đảm tốt hơn quyền tự do cư trú của công dân. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc. Ví dụ như vướng mắc trong việc lấy ý kiến đồng ý của chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp trong việc đăng ký thường trú, nhất là đăng ký thường trú cho trẻ em.
Để khắc phục tồn tại, vướng mắc này, ngày 26-11-2024, Chính phủ ban hành Nghị định 154/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú; trong đó, theo quy định tại Khoản 4, Điều 8, Nghị định 154, trường hợp đăng ký vào chỗ ở hợp pháp mà chủ sở hữu đã chết thì chỉ cần lấy ý kiến đồng ý của một trong những người thừa kế của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điểm a, Khoản 4, Điều 4, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan tới an ninh trật tự số 118/2025/QH15 ngày 10-12-2025, người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp không thuộc quyền sở hữu của mình, khi về ở với cha, mẹ, người giám hộ mà không cần sự đồng ý của chủ hộ và chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp đó.
- Theo quy định mới, trẻ em dưới 6 tuổi đăng ký thường trú hoặc tạm trú theo nơi cư trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ, thì cơ quan chức năng có bắt buộc phải đến tận nơi kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký như trước đây hay không?
- Trẻ em dưới 6 tuổi là đối tượng cần được ưu tiên, chăm sóc và bảo hộ đặc biệt. Do đó, cùng với quyền đăng ký cho trẻ dưới 6 tuổi như tôi đã trao đổi ở trên; căn cứ Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP ngày 13-2-2026 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 154/2024/NĐ-CP (có hiệu lực từ 1-7-2026), thì trường hợp đăng ký thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ, người giám hộ cho người dưới 6 tuổi thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú.
- Trong trường hợp cha mẹ ly hôn và tòa án đã có quyết định giao người chưa thành niên cho một người chăm sóc, nuôi dưỡng thì ai sẽ là người có thẩm quyền kê khai và xác nhận vào tờ khai thay đổi thông tin cư trú của các em?
- Theo quy định tại Khoản 1, Điều 7, Nghị định số 154/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 4, Điều 4, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP), trường hợp người chưa thành niên được tòa án quyết định giao cho cha hoặc mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng thì người được giao chăm sóc, nuôi dưỡng kê khai, xác nhận ý kiến vào tờ khai thay đổi thông tin cư trú.
Người dân khai báo tạm trú qua ứng dụng VNeID. ẢNH: HOÀNG HÙNG
- Pháp luật quy định thời hạn 7 ngày để người dân tự thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú hoặc tạm trú, nếu quá thời hạn này mà công dân hoặc đại diện hộ gia đình vẫn không thực hiện thì cơ quan đăng ký cư trú sẽ có biện pháp xử lý và giải quyết như thế nào?
- Theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Nghị định số 154/2024/NĐ-CP (được sửa đổi tại Khoản 6, Khoản 7, Điều 4, Nghị định số 58/2026/NĐ-CP), trường hợp người thuộc diện xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, lập biên bản về việc công dân, đại diện hộ gia đình không thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú và cơ quan chức năng thực hiện xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú đối với công dân.
Cùng với đó, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 10, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30-10-2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, thì hành vi “Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú” bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng.
Theo quy định tại Nghị định số 58/2026/NĐ-CP, từ ngày 15-3-2026, những trường hợp chết, có quyết định của tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết, được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú vào cơ sở dữ liệu về cư trú, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
- Thưa ông, các quy định mới nhất hiện nay về xử lý các hành vi giả mạo, lợi dụng cư trú, mua bán giấy tờ liên quan tới cư trú được áp dụng như thế nào?
- Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 10, Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30-10-2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình, hành vi “Mua, bán, thuê, cho thuê xác nhận thông tin về cư trú, giấy tờ khác liên quan đến cư trú để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật” sẽ bị phạt từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng và phải nộp lại số thu lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Cùng với đó, căn cứ Điểm b, c, Khoản 4, Điều 10, Nghị định số 282 trên, thì hành vi “Làm giả dữ liệu, sử dụng dữ liệu giả về cư trú để được đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú, tách hộ, điều chỉnh thông tin về cư trú trong cơ sở dữ liệu về cư trú, xóa đăng ký thường trú, xóa đăng ký tạm trú, gia hạn tạm trú, khai báo tạm vắng, cấp giấy tờ khác liên quan đến cư trú hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật khác”, “Làm giả thông tin về cư trú, sử dụng thông tin về cư trú giả trên ứng dụng định danh quốc gia” bị phạt từ 8 triệu đồng đến 12 triệu đồng và bị tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
Hiện nay ở TPHCM và một số địa phương người dân đang phản ánh vướng mắc trong gia hạn tạm trú; nhiều người nộp hồ sơ trên cổng dịch vụ công nhưng thời gian chờ đợi rất lâu, thậm chí hơn 1 tháng cũng chưa biết kết quả. Theo một lãnh đạo Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), vấn đề này có 2 trường hợp xảy ra. Phải xem công dân đã thực hiện theo đúng quy trình phần mềm đã hướng dẫn hay chưa. Cùng với đó, phải xem lại cán bộ tiếp nhận hồ sơ trên hệ thống dịch vụ công. “Nếu công dân đã nộp đúng quy trình mà cán bộ tiếp nhận hồ sơ trên cổng dịch vụ công hướng dẫn không đúng hoặc không xử lý thì phải quy trách nhiệm và có thể truy vết. Bởi quy trình tiếp nhận đã có thời hạn phải trả lời”, đại diện C06 thông tin.
Báo SGGP tiếp nhận một số thông tin liên quan tới bảo lãnh tạm trú, tạm vắng, nhập hộ khẩu/thường trú cho người thân trên ứng dụng VNeID, nhưng vẫn phải có đơn bảo lãnh của chủ hộ. Vấn đề này, đại diện C06 khẳng định, khi thực hiện bảo lãnh đã có tờ khai và có mẫu đồng ý hay không đồng ý, do đó không cần đơn bảo lãnh thêm đối với chủ hộ.
Trong khi đó, đối với các nội dung thời hạn gia hạn tạm trú, trao đổi thêm với phóng viên, Luật sư Nguyễn Linh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, căn cứ Điều 28 Luật Cư trú năm 2020, thời hạn xử lý hồ sơ gia hạn tạm trú là 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thẩm định, cập nhật thông tin gia hạn tạm trú của công dân vào cơ sở dữ liệu về cư trú. Trường hợp từ chối giải quyết phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho công dân.
ĐỖ TRUNG thực hiện
Nguồn SGGP : https://sggp.org.vn/khong-can-xac-minh-dieu-kien-dang-ky-thuong-tru-tam-tru-voi-tre-duoi-6-tuoi-post843217.html