Từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi đến khôi phục nghề truyền thống, họ đang góp phần tạo nên những mô hình kinh tế hiệu quả, lan tỏa tinh thần tự lực và ý chí vượt khó bền bỉ.
Cựu chiến binh Nông Văn Thuật chăm sóc vườn cây ăn quả.
Sau chiến tranh là cuộc sống
Chúng tôi tìm đến căn nhà sàn khang trang của gia đình ông Nông Văn Thuật tại phường Bắc Kạn. Đón chúng tôi là một người đàn ông tóc bạc, gương mặt cương nghị và vóc người mảnh khảnh.
Ông Nông Văn Thuật sinh năm 1951, như bao thế hệ thanh niên thời chiến, ông lên đường nhập ngũ năm 1971 lúc vừa tròn 20 tuổi. Khi ấy, cuộc kháng chiến đang ở giai đoạn ác liệt, người thanh niên tên Thuật cầm súng bước vào những trận đánh đầu tiên tại Quảng Trị.
Ông nhớ lại: Ngay sau huấn luyện, tôi được điều thẳng vào chiến trường Quảng Trị để tham gia chiến đâu. Đó là những ngày tháng khốc liệt mà đến nay bản thân vẫn khó có thể diễn tả trọn vẹn. Ngày ấy tôi vừa lấy vợ, thế nên ban đầu cũng lo sợ, thương bố mẹ, thương người vợ trẻ ở nhà...
Nhưng giữa bom đạn và mất mát liên tiếp, cảm giác sợ hãi dần nhường chỗ cho sự quen thuộc với chiến trường. Người lính khi ấy chỉ còn tính thời gian bằng từng giờ chiến đấu.
Rời Quảng Trị năm 1974, ông tiếp tục tham gia chiến đấu tại Đà Nẵng. Năm 1975, ông có mặt trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Đầu năm 1976, ông Thuật xuất ngũ trở về quê hương, bắt đầu cuộc sống mới bên người vợ thủy chung. Hậu quả chiến tranh để lại không nhỏ khi ông bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học, sức khỏe suy giảm. Chính vì vậy, ông luôn trăn trở tìm hướng đi mới để phát triển kinh tế, tạo nguồn thu ổn định thay vì chỉ dựa vào ruộng đồng.
Có sẵn đất đai của gia đình, ông Thuật tìm hiểu thực tế sản xuất tại địa phương, quan sát nhu cầu thị trường và lựa chọn cây trồng phù hợp. Nhận thấy cây mơ dễ trồng, phù hợp khí hậu, ít tốn công chăm sóc, ông bàn với vợ đưa giống cây này vào sản xuất.
Từ năm 1977, ông bắt đầu ươm những cây mơ đầu tiên. Do điều kiện kinh tế hạn hẹp, phải đến năm sau ông mới mở rộng diện tích trồng. Nhờ chăm sóc cẩn thận và nắm vững kỹ thuật, gần 200 cây mơ phát triển tốt, mỗi năm cho thu hoạch hơn 2 tấn quả. Nhiều năm liền, đây là nguồn thu chính của gia đình.
Tuy nhiên, khoảng năm 2005, giá mơ giảm mạnh, đầu ra khó khăn. Ông Thuật nhớ lại: Lúc ấy mơ chín rụng đầy gốc nhưng không có người thu mua, công sức coi như bị bỏ dở. Tôi tự động viên bản thân không bi quan hay nản trí.
Bởi lẽ, những ai từng tham gia kháng chiến sẽ hiểu, không có khó khăn, gian khổ nào như thời gian ấy; bản thân tôi trở về đã là một điều may mắn, vậy nên phải sống thật tốt và kiên cường hơn nữa.
Từ đó, gia đình ông chuyển hướng sang trồng cây hồng. Vừa làm vừa học hỏi kỹ thuật, từng bước cải tạo đất, chăm sóc vườn cây. Đến nay, vườn hồng rộng hơn 3.000m2 đã phát triển ổn định, cho thu nhập khoảng 200 triệu đồng/năm. Hiện ở tuổi 75, ông Thuật đã dần giao lại mô hình sản xuất cho con cháu tiếp nối.
Những chặng đường mới
Cựu chiến binh Triệu Minh Đoàn sản xuất miến dong tại cơ sở của gia đình.
Không chỉ với cây trồng, nhiều cựu chiến binh ở các vùng quê còn tìm lại sinh kế từ nghề truyền thống. Xã Côn Minh là nơi có nghề làm miến lâu đời. Những ngày nắng, sợi miến trắng phơi kín sân, trải dài từ hiên nhà ra tận lối ngõ. Nghề cũ ấy giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống, trong đó có cựu chiến binh Triệu Minh Đoàn.
Ông Đoàn tham gia quân ngũ từ năm 1984, đến năm 1987 xuất ngũ trở về địa phương. Cuộc sống gặp nhiều khó khăn, vợ chồng ông chủ yếu bám ruộng, thu nhập bấp bênh. Ông từng thử chuyển sang chăn nuôi nhưng không hiệu quả, lại quay về với nghề làm miến của gia đình.
Ban đầu, ông chỉ làm miến thủ công với quy mô nhỏ, mang ra chợ bán lẻ. Khi nhu cầu thị trường tăng lên, nhiều khách hàng ở xa tìm đến đặt mua, ông bắt đầu nghĩ đến việc mở rộng sản xuất.
Năm 2011, ông mạnh dạn vay ngân hàng 100 triệu đồng để đầu tư máy móc, chuyển từ sản xuất thủ công sang sản xuất miến dong theo hướng hàng hóa.
Ông Đoàn nhớ lại: Ở thời điểm ấy, 100 triệu với gia đình tôi lớn lắm, khi đi vay về chỉ sợ không trả được hay làm ăn không thành công. Nhưng tôi nghĩ: Nếu không bắt đầu, không nỗ lực thử sức làm sao có kết quả.
Khó khăn lớn nhất là thị trường tiêu thụ. Từ việc bán nhỏ lẻ ở chợ, khi mở rộng sản xuất thì yêu cầu đầu ra ổn định trở nên cấp thiết. Ông chủ động mang sản phẩm đi giới thiệu ở nhiều địa phương, đồng thời nhờ người quen hỗ trợ phân phối tại các tỉnh khác.
Đến nay, sản phẩm miến dong của gia đình ông đã có mặt tại nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh. Mỗi năm cơ sở sản xuất đạt hơn 12 tấn sản phẩm, tạo việc làm cho lao động địa phương và mang lại thu nhập ổn định cho gia đình.
Ở nhiều địa phương trong tỉnh Thái Nguyên, cựu chiến binh đang phát huy tinh thần tự lực để phát triển kinh tế. Người trồng cây, người chăn nuôi, người giữ nghề truyền thống, tất cả cùng tạo nên bức tranh đa dạng về nỗ lực vươn lên sau chiến tranh. Toàn tỉnh hiện có hơn 1.300 mô hình kinh tế do hội viên cựu chiến binh làm chủ, tạo việc làm cho hàng chục nghìn lao động.
Từ những mô hình như của ông Thuật và ông Đoàn có thể thấy, nhiều cựu chiến binh hôm nay vẫn kiên trì tìm hướng đi mới, không chấp nhận dừng lại trước khó khăn. Có thành công, có thử thách, nhưng điểm chung là tinh thần không lùi bước.
Bước ra từ gian khổ chiến tranh, trở về với đời thường, những người lính năm xưa vẫn giữ cho mình một điều giản dị, đó là ý chí vượt khó. Chính tinh thần ấy tiếp tục lan tỏa, trở thành điểm tựa tinh thần cho thế hệ hôm nay trong hành trình xây dựng cuộc sống mới.
Bích Phượng