Khung 6 trụ cột nâng cao năng lực thực tiễn của giảng viên

Khung 6 trụ cột nâng cao năng lực thực tiễn của giảng viên
3 giờ trướcBài gốc
Nhóm sinh viên Đại học Đà Nẵng giành giải Nhì trong Cuộc thi InTe lần thứ 5 năm 2025 với sự cố vấn của doanh nghiệp và giảng viên.
Trong nhiều năm qua, cụm từ “gắn đào tạo với nhu cầu xã hội”, “kết nối đại học - doanh nghiệp” liên tục được nhắc đến trong các văn bản, hội thảo và chiến lược phát triển giáo dục đại học.
Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu đối với đại học không những là đào tạo nguồn nhân lực có bằng cấp, mà còn tạo ra đội ngũ tri thức có khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn. Đội ngũ GS, PGS, TS, ThS đang tham gia công tác giảng dạy (gọi chung là giảng viên) giữ vai trò then chốt trong quá trình này. Trên thực tế cho thấy vẫn tồn tại một khoảng cách đáng kể giữa hoạt động giảng dạy với nghiên cứu trong nhà trường và thực tiễn vận hành của cộng đồng doanh nghiệp. Khoảng cách đó không những làm giảm hiệu quả đào tạo, mà còn khiến nhiều kết quả nghiên cứu trong hệ thống đại học khó được áp dụng, thương mại hóa.
Một nguyên nhân quan trọng là hệ thống đánh giá giảng viên vẫn nặng về công bố khoa học, giờ giảng và các hoạt động phục vụ cộng đồng, trong khi đóng góp thực tiễn cho doanh nghiệp chưa được ghi nhận tương xứng. Khi cơ chế khuyến khích chưa thay đổi, khó có thể yêu cầu giảng viên đầu tư thời gian dài hạn cho hoạt động tại doanh nghiệp.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng thiếu niềm tin nếu hợp tác không tạo ra giá trị cụ thể, đo lường được. Sự thiếu đồng bộ về mục tiêu và lợi ích khiến mối quan hệ này dễ rơi vào hình thức. Vì vậy, vấn đề cốt lõi không phải là “có kết nối hay không”, mà là “kết nối theo mô hình nào và được bảo đảm bằng cơ chế gì”.
Giảng viên, sinh viên Khoa Khoa học Công nghệ tiên tiến (FAST), Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng tham quan Trung tâm mạng lưới MobiFone miền Trung ở Đà Nẵng
Để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo, nghiên cứu và thực tiễn, cơ quan hoạch định chính sách có thể triển khai khung 6 trụ cột kết nối đại học – doanh nghiệp như một hướng tiếp cận mới. Khung này nhằm xây dựng hệ sinh thái hợp tác bền vững, trong đó giảng viên không những giảng dạy mà còn trực tiếp tham gia chuỗi tạo giá trị của doanh nghiệp, từ sáng tạo, nghiên cứu đến vận hành, sản xuất và phục vụ khách hàng.
Trụ cột thứ nhất:Hoạt động trải nghiệm trong doanh nghiệp
Triết lý trụ cột thứ nhất: Không có trải nghiệm hoạt động, tri thức của giảng viên khó vượt qua ranh giới lý thuyết để trở thành năng lực tạo giá trị thực.
Giảng viên cần có cơ hội làm việc thực chất tại doanh nghiệp, tham gia dự án cụ thể và chịu trách nhiệm về tiến độ, kết quả đầu ra. Chỉ khi trực tiếp đối diện áp lực thị trường, rủi ro và giới hạn nguồn lực, giảng viên mới có thể điều chỉnh nội dung giảng dạy và nghiên cứu sát thực tiễn.
Tham gia các chương trình làm việc dài hạn với vai trò và chỉ tiêu rõ ràng giúp giảng viên không những quan sát mà là trực tiếp thực thi, chịu trách nhiệm về chất lượng, thời gian và nguồn lực như một thành viên thực sự của doanh nghiệp. Nhờ đó, họ hiểu rõ các vấn đề quản trị, công nghệ và vận hành mà doanh nghiệp đang đối mặt.
Giảng viên cũng có thể tham gia hoạt động quản lý, dự án hoặc quá trình hoạch định chiến lược cùng lãnh đạo doanh nghiệp, từ đó cải tiến giảng dạy và chương trình đào tạo phù hợp thực tế. Để triển khai hiệu quả, cần có cơ chế luân chuyển tạm thời, bảo đảm quyền lợi và ghi nhận kết quả trong đánh giá hằng năm.
Trụ cột thứ hai: Đồng sáng tạo tri thức với doanh nghiệp
Triết lý trụ cột thứ hai: Giúp giảng viên gia tăng giá trị cho tri thức thông qua đồng sáng tạo và kiểm chứng trong thực tế
Thay vì nghiên cứu tách rời thực tế, mô hình đồng sáng tạo đặt doanh nghiệp và giảng viên vào vị trí cùng xác định vấn đề, chia sẻ dữ liệu và hợp tác phát triển giải pháp.
Doanh nghiệp cung cấp bối cảnh, dữ liệu, yêu cầu cụ thể; giảng viên đảm nhận vai trò phân tích, hệ thống hóa và kiểm chứng khoa học. Kết quả không những là báo cáo nghiên cứu mà có thể là quy trình cải tiến, sản phẩm mới hoặc giải pháp tối ưu hóa vận hành.
Việc xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu dùng chung giữa đại học và doanh nghiệp là nền tảng quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng. Mô hình này vừa giúp nâng cao chất lượng khoa học, vừa gia tăng khả năng chuyển giao công nghệ.
Trụ cột thứ ba: Hợp tác có hệ thống
Triết lý trụ cột ba: Hợp tác chỉ có ý nghĩa khi được tổ chức như một hệ thống giữa nhà trường và doanh nghiệp thúc đẩy quá trình học tập nghiêm túc và chuyển hóa tri thức nhằm đạt những mục tiêu cụ thể mang lại giá trị cho các bên.
Kết nối đại học - doanh nghiệp chỉ bền vững khi được tổ chức như một hệ thống có mục tiêu, kế hoạch và chỉ số đánh giá cụ thể. Mỗi chương trình hợp tác cần xác định rõ: giải quyết vấn đề gì, sản phẩm đầu ra là gì, tác động đến đào tạo và nghiên cứu ra sao.
Các doanh nghiệp, giảng viên, sinh viên Khoa Khoa học Công nghệ tiên tiến (FAST), Trường Đại học Bách khoa - Đại học Đà Nẵng trong 1 buổi workshop kỹ thuật tại Khoa FAST.
Việc đưa chỉ số gắn kết doanh nghiệp vào kế hoạch năm và tiêu chí đánh giá giảng viên sẽ giúp hoạt động hợp tác đi vào thực chất, tránh hình thức. Đồng thời, sự tham gia của giảng viên trong các hiệp hội nghề nghiệp, mạng lưới chuyên gia cũng góp phần mở rộng không gian tương tác học thuật với thực tiễn.
Điểm cốt lõi là mọi hoạt động trao đổi phải được “chuyển hóa” thành tri thức mới hoặc điều chỉnh chương trình đào tạo, thay vì dừng ở các cuộc gặp gỡ mang tính giao lưu.
Triết lý trụ cột thứ tư: Gắn kết đào tạo đại học với thực tiễn doanh nghiệp
Triết lý trụ cột thứ tư:Xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa quá trình giảng dạy – học tập trong nhà trường và hoạt động vận hành thực tế của doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực thực hành và khả năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên.
Đưa thực tiễn vào đào tạo là bước chuyển quan trọng để nâng cao chất lượng học tập. Mô hình đồng giảng giữa giảng viên và chuyên gia doanh nghiệp giúp kết nối lý thuyết với kinh nghiệm thực tế, tạo bài học sát nhu cầu thị trường.
Các học phần dựa trên dự án thực tế, bài toán doanh nghiệp đặt hàng hay luận án gắn với sản xuất, kinh doanh giúp sinh viên phát triển năng lực giải quyết vấn đề và thích ứng nghề nghiệp.
Khi doanh nghiệp tham gia thiết kế chương trình, đào tạo vừa bảo đảm chiều sâu học thuật vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, giúp sinh viên học tập gắn với nghề nghiệp tương lai.
Trụ cột thứ năm: Chính sách và động lực
Triết lý trụ cột thứ năm: Không có chính sách và động lực phù hợp, mọi nỗ lực kết nối gặp thử thách để mang lại giá trị có ích cụ thể cho hai bên, đại học – doanh nghiệp
Một trong những rào cản lớn đối với kết nối đại học – doanh nghiệp là cơ chế đánh giá và ghi nhận chưa tương xứng với đóng góp thực tiễn của giảng viên.
Theo đề xuất, kinh nghiệm làm việc tại doanh nghiệp, kết quả chuyển giao công nghệ, dự án cải tiến, tư vấn đổi mới… cần được công nhận như một phần giá trị học thuật. Cơ chế bổ nhiệm, khen thưởng, phân bổ nguồn lực nên gắn với mức độ gắn kết doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, cần hình thành quỹ hợp tác, chương trình luân chuyển nhân sự hai chiều và cơ chế tài trợ vị trí giảng viên gắn với ngành nghề cụ thể. Khi có chính sách phù hợp, giảng viên sẽ yên tâm đầu tư thời gian cho hoạt động thực tiễn; doanh nghiệp cũng tăng niềm tin đối với nhà trường.
Trụ cột thứ sáu: Phát triển tư duy doanh nhân và khởi nghiệp
Triết lý trụ cột thứ sáu: Tư duy doanh nhân và khởi nghiệp giúp giảng viên biến tri thức thành động lực phát triển nhằm tạo ra giá trị thông qua đổi mới sáng tạo để giải quyết các vấn đề cụ thể trong doanh nghiệp.
Trong bối cảnh kinh tế tri thức, giảng viên không những là người truyền đạt tri thức mà còn cần có tư duy tạo giá trị. Việc tham gia phát triển sản phẩm từ kết quả nghiên cứu, cố vấn đổi mới sáng tạo hoặc hỗ trợ khởi nghiệp giúp giảng viên hiểu rõ hơn về thị trường, khách hàng và rủi ro.
Tư duy doanh nhân giúp giảng viên đặt ra những câu hỏi cốt lõi: nghiên cứu này giải quyết vấn đề gì của xã hội? Nội dung giảng dạy có gắn với thực tiễn không? Bản thân giảng viên có trực tiếp tham gia giải quyết bài toán cùng doanh nghiệp hay không?
Những trải nghiệm đó quay trở lại làm giàu nội dung đào tạo, đồng thời góp phần hình thành thế hệ sinh viên năng động, sáng tạo và có năng lực khởi nghiệp.
Hướng tới hệ sinh thái hợp tác bền vững
Khung 6 trụ cột kết nối đại học – doanh nghiệp không những là tập hợp giải pháp kỹ thuật, mà còn là cách tiếp cận mang tính hệ thống nhằm thu hẹp khoảng cách giữa giảng dạy, nghiên cứu và thực tiễn sản xuất, kinh doanh.
Khi được triển khai đồng bộ, mô hình này giúp giảng viên nâng cao năng lực chuyên môn gắn với thực tiễn; sinh viên được học tập trong môi trường sát thị trường lao động; doanh nghiệp tiếp cận nhanh hơn với tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Khung 6 trụ cột nêu trên có thể xem là một gợi ý chính sách nhằm thể chế hóa mối quan hệ này theo hướng hệ thống, minh bạch và có trách nhiệm giải trình.
Về lâu dài, kết nối thực chất giữa đại học và doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong bối cảnh phát triển mới của đất nước, đây có thể là một hướng đi cần được nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế và nhân rộng.
Thu hẹp khoảng cách giữa tri thức và thị trường không phải nhiệm vụ của riêng giảng viên hay doanh nghiệp, mà đòi hỏi quyết tâm cải cách từ cấp quản lý, xây dựng chính sách. Khi cơ chế được tháo gỡ, kết nối đại học – doanh nghiệp sẽ trở thành động lực phát triển bền vững của giáo dục đại học và nền kinh tế.
TS Nguyễn Quang Như Quỳnh - ThS Vũ Tuấn Anh
Nguồn GD&TĐ : https://giaoducthoidai.vn/khung-6-tru-cot-nang-cao-nang-luc-thuc-tien-cua-giang-vien-post770895.html