Khủng hoảng năng lượng sẽ tác động đến kinh tế toàn cầu nặng nề hơn cả Covid-19?

Khủng hoảng năng lượng sẽ tác động đến kinh tế toàn cầu nặng nề hơn cả Covid-19?
3 giờ trướcBài gốc
Theo Adi Imsirovic, hiện chỉ có số ít tàu được phép qua eo biển Hormuz. Kết quả là thị trường toàn cầu mất khoảng 11 triệu thùng dầu và chất lỏng dầu mỏ mỗi ngày. Con số này chiếm hơn 10% nguồn cung toàn cầu.
Thoạt nhìn, sự gián đoạn 10% có vẻ không phải là thảm họa. Nhưng trong thị trường dầu mỏ , ngay cả sự mất cân bằng 10% giữa cung và cầu cũng có thể gây ra những tác động kinh tế rất lớn.
Để hiểu được quy mô của sự gián đoạn, theo Adi Imsirovic, việc so sánh với thời kỳ đỉnh điểm của đại dịch COVID-19 năm 2020 là rất hữu ích. Trong thời gian phong tỏa toàn cầu, đường sá vắng vẻ, máy bay ngừng hoạt động và các bến xe buýt, ga tàu hỏa trống rỗng. Nhu cầu dầu mỏ toàn cầu thời điểm đó giảm khoảng 8 triệu thùng/ngày.
Tình hình hiện tại thì ngược lại. Thay vì sự sụt giảm mạnh về nhu cầu, thế giới đang trải qua một cú sốc lớn về nguồn cung. Nhưng tác động đến cuộc sống hàng ngày cuối cùng có thể tương tự: giảm đi lại, chi phí vận chuyển tăng cao, hoạt động kinh tế chậm lại và áp lực lên ngân sách hộ gia đình.
Lý do là cả nguồn cung và cầu dầu mỏ đều rất thiếu linh hoạt trong ngắn hạn. Mọi người vẫn cần lái xe đi làm, hàng hóa vẫn cần được vận chuyển và máy bay vẫn cần nhiên liệu. Khi nguồn cung giảm đột ngột, giá cả phải tăng đáng kể để ép cầu giảm xuống.
Hiện tại, việc giải phóng lượng dầu dự trữ khẩn cấp đang giúp giảm thiểu tác động ban đầu, đặc biệt là ở các nền kinh tế phát triển. Các thành viên của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) được yêu cầu dự trữ khẩn cấp lượng dầu tương đương với ít nhất 90 ngày tiêu thụ, và một số quốc gia cũng duy trì dự trữ dầu mỏ chiến lược.
Do đó, các nền kinh tế như Mỹ, Trung Quốc và Nhật Bản có thể bù đắp những gián đoạn nguồn cung trong một thời gian giới hạn. Tuy nhiên, những nguồn dự trữ này không phải là giải pháp lâu dài. Nếu xung đột kéo dài nhiều tháng thay vì vài tuần, lượng dự trữ sẽ cạn kiệt.
Tình hình còn nghiêm trọng hơn nhiều đối với các nước đang phát triển. Nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ có trữ lượng thương mại rất hạn chế và dễ bị tổn thương hơn trước những gián đoạn nguồn cung và sự tăng giá đột biến. Đối với các nền kinh tế này, giá dầu tăng cao nhanh chóng dẫn đến giá lương thực tăng, lạm phát và bất ổn kinh tế.
Tình trạng thiếu hụt đầu tiên có lẽ sẽ không xuất hiện ở xăng mà là ở dầu diesel và nhiên liệu máy bay. Các nhà sản xuất dầu mỏ vùng Vịnh là những nhà xuất khẩu chính của các sản phẩm chưng cất trung gian, và các loại dầu thô của họ tạo ra một lượng lớn dầu diesel và nhiên liệu máy bay khi được tinh chế.
Dầu diesel đặc biệt quan trọng vì nó cung cấp nhiên liệu cho xe tải, tàu thuyền, thiết bị xây dựng và máy móc nông nghiệp. Vì vậy, tình trạng thiếu dầu diesel ảnh hưởng đến nguồn cung cấp thực phẩm, xây dựng, khai thác mỏ và thương mại toàn cầu – chứ không chỉ riêng vận tải. Tình trạng thiếu xăng sẽ xảy ra sau đó khi nguồn cung dầu thô tiếp tục khan hiếm, và cuối cùng, tình trạng thiếu hụt sẽ lan rộng sang tất cả các sản phẩm dầu mỏ.
Dầu mỏ không chỉ được sử dụng làm nhiên liệu vận chuyển mà còn là nguyên liệu đầu vào quan trọng trong ngành hóa dầu để sản xuất nhựa, phân bón, hóa chất, vật liệu tổng hợp và nhiều quy trình công nghiệp khác. Điều này có nghĩa là tác động của sự gián đoạn lớn về nguồn cung dầu sẽ lan rộng khắp toàn bộ nền kinh tế.
Tình trạng thiếu hụt hoặc tăng giá có thể ảnh hưởng đến mọi thứ, từ sản xuất và đóng gói thực phẩm đến điện tử, vật liệu xây dựng và quần áo. Do đó, tác động kinh tế của cú sốc dầu mỏ rộng hơn nhiều so với việc chỉ đơn thuần là giá xăng tăng cao.
Một trong những rủi ro lớn nhất trong cuộc khủng hoảng nguồn cung là các hạn chế xuất khẩu và chủ nghĩa bảo hộ. Chính phủ thường cố gắng bảo vệ người tiêu dùng trong nước bằng cách đóng băng giá cả và cấm xuất khẩu nhiên liệu hoặc dầu thô, nhưng điều này thường làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt toàn cầu .
Việc chính phủ đóng băng giá chỉ làm giảm sản xuất và nguồn cung, đồng thời khuyến khích người tiêu dùng tiếp tục sử dụng nhiên liệu. Chủ nghĩa bảo hộ thậm chí còn tồi tệ hơn.
Đã có những dấu hiệu cho thấy điều này đang xảy ra – một số quốc gia (ví dụ như Trung Quốc) đang hạn chế xuất khẩu các sản phẩm dầu mỏ như dầu diesel và nhiên liệu máy bay. Khi các quốc gia tích trữ nhiên liệu, thị trường toàn cầu trở nên khan hiếm hơn và giá cả càng tăng cao.
Rủi ro lớn nhất sẽ là nếu Mỹ hạn chế xuất khẩu dầu mỏ để bảo vệ người tiêu dùng trong nước. Hiện Mỹ là nhà sản xuất dầu lớn nhất thế giới với sản lượng hơn 20 triệu thùng dầu và chất lỏng dầu mỏ mỗi ngày. Nhưng nước này cũng là một trong những nước tiêu thụ lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Mỹ vẫn xuất khẩu một lượng đáng kể, đặc biệt là sang châu Âu.
Mỹ từng cấm xuất khẩu dầu mỏ trước đây vào năm 1975 và dỡ bỏ vào năm 2015. Lệnh cấm tương tự được áp dụng ngày nay có thể gây ra tình trạng thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng và giá cả tăng cao, đặc biệt là ở châu Âu.
Nếu eo biển Hormuz vẫn bị đóng cửa trong thời gian dài, hoặc nếu xung đột leo thang hơn nữa, tổn thất xuất khẩu toàn cầu từ vùng Vịnh Ba Tư có thể lên tới gần 20 triệu thùng dầu và các sản phẩm dầu mỏ mỗi ngày.
Trong những hoàn cảnh này, tác động kinh tế và xã hội có thể rất nghiêm trọng. Chi phí vận chuyển có thể trở nên đắt đỏ hơn và tần suất ít hơn; du lịch hàng không sẽ bị hạn chế nghiêm trọng, lạm phát gia tăng và tăng trưởng kinh tế sẽ chậm lại đáng kể.
Trong những trường hợp cực đoan, sự gián đoạn đối với đời sống kinh tế hàng ngày có thể tương tự như thời kỳ COVID-19 (và có lẽ còn tồi tệ hơn). Nhưng lần này, nguyên nhân sẽ là do thiếu hụt năng lượng.
Hiện tại, thị trường đang trông chờ vào việc tung ra nguồn cung dự trữ khẩn cấp và hy vọng về việc giảm leo thang địa chính trị. Nhưng nếu không, nền kinh tế thế giới có thể phải đối mặt với một cú sốc năng lượng chưa từng có, với những hậu quả sâu rộng và khó lường.
(Theo Asiatimes)
Hải Minh
Nguồn TG&VN : https://baoquocte.vn/khung-hoang-nang-luong-se-tac-dong-den-kinh-te-toan-cau-nang-ne-hon-ca-covid-19-374889.html