Khung phát triển kinh tế nhà nước đến 2030 theo Nghị quyết 79-NQ/TW

Khung phát triển kinh tế nhà nước đến 2030 theo Nghị quyết 79-NQ/TW
19 giờ trướcBài gốc
Tổng Bí thư Tô Lâm vừa ký ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước.
Nghị quyết khẳng định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, thực hiện chức năng định hướng, dẫn dắt và điều tiết các hoạt động kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Tuy nhiên, nghị quyết cũng chỉ ra rằng bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập, từ thể chế, hiệu quả quản lý nguồn lực đến hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
Trong bối cảnh đó, nhằm hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt và triển khai đồng bộ, quyết liệt các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhà nước.
Đưa doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới
Về mục tiêu cụ thể, nghị quyết đặt ra lộ trình đến năm 2030 với trọng tâm là nâng cao quy mô, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, phấn đấu có khoảng 50 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ một đến ba doanh nghiệp nhà nước lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Nghị quyết xác định nhiệm vụ xây dựng một số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, đủ năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế. Các doanh nghiệp này giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong những ngành, lĩnh vực then chốt và chiến lược của nền kinh tế.
Toàn bộ doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước áp dụng đầy đủ các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo chuẩn OECD.
Trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất ba ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản, đồng thời phát triển các ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ lực trong hệ thống.
Mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất ba ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản. Ảnh: Hoàng Anh
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, nghị quyết tiếp tục định hướng xã hội hóa mạnh mẽ việc cung cấp dịch vụ công, sắp xếp và tinh gọn đầu mối, hướng tới chỉ còn các đơn vị phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.
Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế nhà nước được xác định trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế.
Mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; năm doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên theo cơ chế thị trường.
Yêu cầu quản trị theo hướng hiện đại
Về giải pháp chung, nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển và quản trị hiện đại.
Các chức năng sở hữu vốn nhà nước, chức năng quản lý kinh tế và chức năng thực hiện nhiệm vụ chính trị được yêu cầu tách bạch rõ ràng.
Nghị quyết đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, thiết lập quy trình xem xét độc lập và minh bạch để phân biệt rõ sai sót khách quan với vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý trách nhiệm.
Đội ngũ lãnh đạo, quản lý, chuyên gia được đảm bảo thu nhập tương xứng, phù hợp với thị trường lao động, có chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài.
Song song với đó, nghị quyết yêu cầu chuẩn hóa và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về chủ thể và các nguồn lực của kinh tế nhà nước, bảo đảm tính liên thông, thống nhất và cập nhật, phục vụ công tác hoạch định chính sách, quản lý và giám sát hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước.
Trong nhóm giải pháp cụ thể, nghị quyết đặt mục tiêu đến hết năm 2026 hoàn thành việc đo đạc, thống kê, số hóa và làm sạch hệ thống dữ liệu đất đai trên toàn quốc, kết nối và chia sẻ liên thông với các hệ thống dữ liệu quốc gia khác.
Có cơ chế, chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong tiếp cận đất đai; ưu tiên bố trí quỹ đất cho phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng, công nghiệp, dịch vụ, phát triển đô thị, nhà ở xã hội; làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và cương quyết thu hồi đất bỏ hoang, sử dụng sai mục đích, lãng phí.
Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, được khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm thăm dò, khai thác và chế biến các loại khoáng sản mà trong nước chưa có hoặc có trữ lượng hạn chế.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc tăng cường điều tra cơ bản và xây dựng hệ thống dữ liệu về tài nguyên biển, đảo, gắn khai thác, sử dụng hiệu quả với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Kinh tế biển được xác định là một cấu phần quan trọng trong kinh tế nhà nước, với ưu tiên đầu tư các công trình hạ tầng biển, đảo trọng yếu.
Đáng chú ý, nghị quyết yêu cầu ban hành các cơ chế vượt trội và hành lang pháp lý đồng bộ để triển khai các khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), phục vụ phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp, ngành công nghiệp hàng không và vũ trụ.
Đồng thời, khuyến khích huy động nguồn lực xã hội và hợp tác công tư trong đầu tư, khai thác công trình ngầm, phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số tiên tiến.
Cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước
Đối với doanh nghiệp nhà nước, nghị quyết cho phép áp dụng các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ.
Các biện pháp bao gồm được sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp, tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp, cũng như rà soát, đánh giá lại các tài sản đã hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng.
Việc hợp nhất, sáp nhập và chuyển giao doanh nghiệp được khuyến khích nhằm phát huy lợi thế tổng thể của từng ngành.
Nghị quyết cho phép doanh nghiệp nhà nước chủ động sử dụng quỹ phát triển khoa học và công nghệ để triển khai hoặc đặt hàng nghiên cứu, phát triển theo cơ chế khoán sản phẩm. Đồng thời, doanh nghiệp nhà nước có thể tự hình thành hoặc liên kết với nhà nước và các doanh nghiệp khác để thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm.
Một nội dung trọng tâm khác là tái cơ cấu toàn diện Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao được tập trung để đầu tư phát triển doanh nghiệp quy mô lớn, dự án công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài, thực hiện mua bán – sáp nhập nhằm tiếp cận công nghệ mới và công nghệ lõi.
Bên cạnh đó, nghị quyết yêu cầu nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và Công ty Mua bán nợ Việt Nam nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu tài chính và xử lý nợ xấu của doanh nghiệp nhà nước và ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.
Nhật Hạ
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/khung-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc-den-2030-theo-nghi-quyet-79-nq-tw-d43838.html